Năm 2011 là năm đầu tiên ngành y tế thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, ngành y tế đã ra sức phấn đấu, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn, PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế đã dành cho báo Sức khỏe&Đời sống cuộc phỏng vấn.
Phóng viên (PV): Đón chào một mùa xuân mới, xin Bộ trưởng cho biết những kết quả và thành tựu nổi bật mà ngành đã đạt được trong năm 2011?
![]() Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến. |
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến:
Những ngày đầu xuân này, ngành y tế vô cùng phấn khởi khi kết thúc năm 2011, ngành đã khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, khó khăn của nền kinh tế nói chung để đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Năm 2011, ngành y tế tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu được Đảng, Quốc hội, Chính phủ giao gồm: chỉ tiêu số giường bệnh trên 1 vạn dân (không kể giường trạm y tế xã) giao 21, ước đạt 21,1; chỉ tiêu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 17,3%, ước đạt 17,3%; chỉ tiêu mức giảm tỷ lệ sinh giao 0,2%o, ước đạt 0,2%o; chỉ tiêu tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý giao 82%; ước đạt 82%...
Năm 2011 là năm mà một số dự luật quan trọng được Quốc hội thông qua hoặc bắt đầu có hiệu lực thi hành như Luật BHYT, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật An toàn thực phẩm... Nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, liên bộ và Bộ Y tế ban hành như:
Nghị định 87/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Nghị định số 102/2011/NĐ-CP về bảo hiểm trách nhiệm trong khám chữa bệnh; Nghị định số 92/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT; Nghị định số 56/2011/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập; Nghị định số 93/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế; Nghị định số 69/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS; Nghị định số 96/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về khám chữa bệnh...; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi bổ sung Quyết định 139 về khám chữa bệnh cho người nghèo, trong đó hỗ trợ cho những người nghèo, người cận nghèo bị bệnh hiểm nghèo ung bướu, chạy thận nhân tạo; Chiến lược Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030; Kế hoạch phát triển ngành y tế giai đoạn 2011-2016 và nhiều chiến lược chuyên ngành khác. Bộ Y tế ban hành kịp thời Thông tư 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 39/2011/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia BHYT bị tai nạn giao thông...
Các văn bản này là cơ sở để ngành y tế tiếp tục phát triển cả về chất và lượng.
Về chuyên môn, ngành y tế đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương đẩy mạnh công tác y tế dự phòng; tích cực triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh; giám sát, theo dõi và khống chế, xử lý kịp thời, không để dịch bệnh bùng phát, lây lan; tăng cường giám sát tại các cửa khẩu nhằm phát hiện các trường hợp xâm nhập, giảm thiểu việc lây truyền dịch bệnh; đã khống chế dịch tay - chân - miệng (Ninh Thuận đã công bố hết dịch); thực hiện được 3 giảm trong phòng chống HIV/AIDS (giảm số người nhiễm mới, giảm số người chuyển sang AIDS và giảm tử vong vì AIDS); công tác an toàn vệ sinh thực phẩm đã được đẩy mạnh với việc xây dựng và trình các nghị định hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm, tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến sản xuất, cung ứng thực phẩm, nhờ đó giảm được số vụ ngộ độc thực phẩm.
Công tác khám chữa bệnh được quan tâm, chất lượng dịch vụ tăng lên đáng kể, nhiều kỹ thuật mới được triển khai có hiệu quả tại Việt Nam, tuy chưa được nhiều nhưng đã khẳng định y tế Việt Nam có thể tiếp cận và có khả năng thực hiện tốt những kỹ thuật tiên tiến mà các nước phát triển đã làm được. Đã thực hiện thành công việc ghép tạng ở bệnh nhân chết não, ứng dụng tế bào gốc trong điều trị...
Mạng lưới khám chữa bệnh từ Trung ương đến địa phương tiếp tục được tập trung đầu tư; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được nâng cấp thông qua các đề án Trái phiếu Chính phủ, ODA; Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh đã được cải thiện đáng kể; Ngành cũng đã quan tâm và triển khai thực hiện các chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đồng bào các dân tộc thiểu số, các đối tượng hưởng chính sách xã hội, người có công. Từng bước giảm được số bệnh nhân không cần thiết phải chuyển viện lên tuyến trên. Việc luân phiên cán bộ, chuyển giao công nghệ cho tuyến dưới đã đạt những kết quả tích cực.
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến thăm bệnh nhi đang điều trị tại BV Nhi Ðồng 1 trong chuyến công tác kiểm tra quá tải bệnh viện tại TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/2011. Ảnh: Tuân Nguyễn |
Cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã bước đầu được đổi mới theo định hướng chỉ đạo của Đảng, Chính phủ; nâng cao được trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị, phát huy năng lực của cán bộ y tế, phần nào động viên, khuyến khích được các cán bộ y tế tiếp tục công tác lâu dài cho ngành; đồng thời góp phần khắc phục khó khăn về tài chính, đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước để nâng cao chất lượng dịch vụ, thực hiện tốt Nghị quyết của Quốc hội về xã hội hoá công tác y tế.
PV:Thực hiện BHYT có ý nghĩa to lớn về an sinh xã hội, chỉ có BHYT toàn dân mới đảm bảo nguồn tài chính vững chắc, lâu dài để thực hiện chăm sóc y tế công bằng, hiệu quả. Thưa Bộ trưởng, trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ có những “điểm nhấn” gì để việc thực hiện mang lại hiệu quả cao?
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến: BHYT có vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm cơ chế tài chính y tế mang tính xã hội cao dựa trên nguyên tắc đoàn kết, tương trợ, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng, hướng tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. Để triển khai có hiệu quả chính sách này, trong thời gian tới, Bộ Y tế tập trung chỉ đạo, triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm như tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật. Năm 2012, trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về thực hiện lộ trình BHYT toàn dân và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện Lộ trình BHYT toàn dân. Ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện BHYT: Thông tư ban hành danh mục vật tư y tế; dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn được Quỹ BHYT thanh toán; Thông tư hướng dẫn khám sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh sơ sinh, trước sinh được Quỹ BHYT thanh toán... Nghiên cứu chuẩn bị sửa đổi, bổ sung Luật BHYT.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT với nhiều hình thức và phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau. Tổ chức các hoạt động đào tạo bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý, chuyên môn về lĩnh vực BHYT.
Bộ Y tế đã đề nghị Chính phủ năm 2012 nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho đối tượng là người thuộc hộ cận nghèo từ 50% lên 70% mức đóng để mở rộng các nhóm đối tượng tham gia BHYT theo lộ trình. Năm 2013, tiếp tục đề nghị nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho đối tượng là học sinh sinh viên, hộ gia đình nông dân…
Áp dụng các phương thức chi trả phù hợp; Cải cách thủ tục hành chính, sửa đổi bổ sung quy định phân tuyến, chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật; Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT.
Củng cố và nâng cao năng lực hệ thống tham mưu về quản lý Nhà nước về BHYT. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHYT. Tổ chức tổng kết các hoạt động trong lĩnh vực BHYT và duy trì phong trào thi đua nhằm tạo động lực động viên, khuyến khích tập thể, cá nhân trong thực hiện chính sách BHYT.
Hy vọng sau khi khung giá dịch vụ mới được phê duyệt và áp dụng, chất lượng khám chữa bệnh BHYT được nâng lên, thu hút được người bệnh BHYT đến cơ sở y tế nhiều hơn.
PV: Việc đổi mới cơ chế tài chính theo hướng thu đủ bù chi, tính đúng, tính đủ là việc làm cấp thiết hiện nay, góp phần đảm bảo hoạt động của các cơ sở y tế và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế như thế nào, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến: Tài chính y tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động của ngành y tế nói chung và các đơn vị sự nghiệp y tế nói riêng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Để thực hiện định hướng XHCN, các hoạt động như phòng bệnh, khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách xã hội, vùng khó khăn thì phải do Nhà nước bảo đảm; Các đối tượng có khả năng chi trả viện phí thì phải chi trả để giảm bớt gánh nặng của Nhà nước. Thực hiện cơ chế thị trường thì giá phải phù hợp với chi phí và chất lượng dịch vụ, có nhiều loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân. Các chi phí đầu vào của các đơn vị sự nghiệp y tế (các bệnh viện, viện, trung tâm y tế) đều phải mua theo giá thị trường, không có loại đầu vào nào được bao cấp, do vậy, để bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ sở y tế, nhất là các bệnh viện thì nguồn tài chính gồm ngân sách và nguồn thu phải bù đắp đủ các chi phí bệnh viện đã bỏ ra theo cơ chế thị trường, thu phải lớn hơn hoặc bằng chi để tồn tại và phát triển.
Tuy nhiên, cơ chế tài chính y tế hiện nay có một số bất cập sau: Đối với các cơ sở y tế dự phòng, các hoạt động phòng chống bệnh dịch: Do Nhà nước bao cấp là chủ yếu nhưng kinh phí cấp cơ bản chỉ bảo đảm tiền lương theo ngạch bậc và mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, các khoản chi để vận hành đơn vị (điện, nước, xăng dầu, văn phòng...) cũng như để triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh còn rất thiếu. Đối với các bệnh viện, hiện nay, hầu hết ngân sách chỉ bảo đảm tiền lương, còn chi phí hoạt động ngoài lương phải sử dụng nguồn thu nhưng mức giá viện phí vẫn đang tính một phần, chưa bảo đảm bù đắp các chi phí trực tiếp như thuốc, máu, dịch truyền, vật tư, hóa chất, điện nước... để thực hiện dịch vụ. Giá các dịch vụ đã ban hành tại Thông tư 14/TTLB năm 1995 (đến nay đã 16 năm, xây dựng trong thời kỳ bao cấp) và một số dịch vụ ban hành giá năm 2006 (đến nay đã 6 năm) nhưng vẫn chưa được điều chỉnh cho phù hợp, dẫn đến việc vận hành của hệ thống y tế rất khó khăn.
Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế tài chính y tế là rất cần thiết, quan điểm đổi mới cơ chế tài chính trong thời gian tới là: Nhà nước tiếp tục ưu tiên đầu tư cho y tế, bảo đảm tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách Nhà nước; Cơ cấu lại phân bổ ngân sách theo hướng ưu tiên cho vùng núi, vùng khó khăn, y tế dự phòng, y tế cơ sở, ưu tiên chi đầu tư phát triển để nâng cấp và hoàn thiện hệ thống y tế công lập; Nhà nước đảm bảo ngân sách cho các hoạt động y tế dự phòng, dân số/kế hoạch hóa gia đình và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Điều chỉnh giá dịch vụ y tế được xây dựng trên cơ sở tính đúng, tính đủ các chi phí phục vụ người bệnh, khoản nào Nhà nước đã chi thì không thu, nhưng không phải tính đúng, tính đủ ngay mà thực hiện theo lộ trình phù hợp, song song với lộ trình BHYT toàn dân và tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về giá và chất lượng dịch vụ y tế.
Phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra; theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công trên cơ sở tính đầy đủ chi phí trong giá đặt hàng để đơn vị có đủ kinh phí triển khai việc cung ứng dịch vụ. Từng bước chuyển việc cấp ngân sách cho các bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng thông qua việc mua hoặc hỗ trợ mua thẻ BHYT. Chuyển đổi phương thức thu từ thu theo phí dịch vụ sang thanh toán trọn gói theo trường hợp bệnh (thanh toán theo mức chi phí bình quân cho từng loại bệnh hay nhóm bệnh cụ thể đã được chẩn đoán).
Nếu đổi mới được cơ chế tài chính và giá dịch vụ y tế theo hướng trên sẽ giúp cho các cơ sở y tế có đủ kinh phí để triển khai các hoạt động cung ứng dịch vụ, chất lượng dịch vụ sẽ tăng lên.
Phóng viên: Một trong những vấn đề Bộ trưởng đang trăn trở hiện nay là giảm tải cho các bệnh viện. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà nhiệm kỳ 2011 - 2016 ngành y tế ưu tiên thực hiện. Xin Bộ trưởng cho biết một số giải pháp để giải quyết tình trạng này?
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến: Nguyên nhân của tình trạng quá tải bệnh viện với kết quả của những nghiên cứu khoa học và thực tiễn cho thấy tình trạng quá tải bệnh viện hiện nay là hậu quả của tập hợp các nhóm nguyên nhân khác nhau như do nhu cầu và ý thức khám chữa bệnh của người dân, đời sống của nhân dân được nâng cao, người dân có nhận thức cao hơn về nhu cầu chăm sóc sức khỏe, có xu hướng lựa chọn dịch vụ tốt nhất. Tâm lý của người bệnh: luôn coi trọng chuyên môn, kỹ thuật của tuyến trên. Do mô hình bệnh tật thay đổi với diễn biến phức tạp của bệnh dịch, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng, gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và sự xuất hiện của những bệnh lạ mới nổi. Cùng với đó có nguyên nhân đầu tư y tế thấp, hạn chế về trang thiết bị, đội ngũ cán bộ y tế tuyến cơ sở, đặc biệt là tuyến huyện ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn…
Để giải quyết thực trạng trên, trong giai đoạn 2011 - 2016, ngành y tế sẽ tập trung vào một số nhóm giải pháp như xây dựng đề án trình Chính phủ về giảm tải bệnh viện, mở rộng và xây mới cơ sở hạ tầng bệnh viện để tăng tỷ lệ giường bệnh trên 1 vạn dân. Tăng cường chuyên môn, kỹ thuật, nâng cao năng lực và phát triển kỹ thuật của tuyến y tế cơ sở, xây dựng quy định về phân tuyến kỹ thuật và chuyển tuyến. Phát triển hệ thống bệnh viện vệ tinh cho các bệnh viện có mức độ quá tải trầm trọng. Tăng tỷ lệ khám, điều trị ngoại trú, đồng thời giảm tỷ lệ nhập viện (điều trị nội trú) trên tổng số đến khám. Đa dạng hóa các mô hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh: điều trị ban ngày, chăm sóc tại nhà, bác sĩ gia đình… Làm tốt công tác y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, chú trọng cải cách thủ tục hành chính phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân kịp thời, thuận lợi; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát: xây dựng hệ thống thông tin nhằm giám sát thường xuyên thực trạng quá tải tại các đơn vị, gắn trách nhiệm giảm tải với nhiệm vụ chính trị của đơn vị; đưa ra các hình thức thi đua khen thưởng thực hiện giảm tải.
Tiếp tục đầu tư cho ngành y tế thông qua nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nguồn ODA và các nguồn vốn hợp pháp khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Xây dựng Đề án giảm tải bệnh viện, dự kiến sẽ trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2012; Đề án phát triển dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác khám, chữa bệnh, tăng số giường bệnh tư nhân và đa dạng hoá các loại hình khám, chữa bệnh. Phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố để có chính sách hỗ trợ cho các nhà đầu tư xây dựng bệnh viện; tăng tỷ lệ giường bệnh tư nhân để có thể chia sẻ nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân tại các bệnh viện công lập. Đề xuất cơ chế thực hiện xã hội hóa dịch vụ giường nằm cho bệnh nhân. Tăng cường các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân, tạo lòng tin của người dân với cơ sở y tế ở tuyến dưới…
PV: Thưa Bộ trưởng, những khó khăn, thách thức và nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm 2012 là gì?
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến: Về khó khăn, thách thức đối với ngành y tế: Do biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến thất thường, xuất hiện nhiều dịch bệnh mới, nguy hiểm, do đó, phải thường xuyên tập trung phòng chống dịch bệnh; an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề rất lớn, một mình ngành y tế khó có thể giải quyết; Nghị quyết 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát đã làm hạn chế lượng vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư cho y tế để nâng cấp, sửa chữa bệnh viện cấp huyện, cấp tỉnh của vùng khó khăn, dẫn đến khó giảm được tình trạng quá tải của tuyến trên; Đề án đổi mới cơ chế tài chính trong lĩnh vực y tế chưa được phê duyệt, chất lượng khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh đối với các dịch vụ y tế chưa cao, đặc biệt là bệnh nhân có BHYT; rất khó tăng số người tham gia BHYT trong nhóm cận nghèo, nhân lực y tế phân bố bất cập, chủ yếu tập trung ở thành phố lớn...
Khó khăn của ngành thì rất nhiều nhưng trước hết phải ưu tiên những vấn đề gì mà người dân đang cảm thấy bức xúc đối với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe hoặc các vấn đề Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo thì phải được ưu tiên giải quyết trước, như các vấn đề về giá dịch vụ bệnh viện, tình trạng quá tải, chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, KCB trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng thiệt thòi khác...
Vì thế năm 2012, toàn ngành cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ như: tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; Nghị quyết 18/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 34/2010/QH12 của Quốc hội; Nghị quyết 46-NQ/TW, 47-NQ/TW và các Kết luận số 42/KL-TW, 43/KL-TW, 44/KL-TW của Bộ Chính trị; Luật Khám bệnh, chữa bệnh (trong đó có cấp chứng chỉ hành nghề cho cán bộ y tế); Luật BHYT; Luật ATTP; Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược dân số - sức khỏe sinh sản; chính sách KCB cho người nghèo; triển khai Tiêu chí quốc gia về y tế xã... với trọng tâm là từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, phát triển hệ thống y tế và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người có công, người nghèo, nhân dân vùng khó khăn, đẩy mạnh xã hội hoá nhằm huy động các nguồn lực cho y tế.
Tăng cường công tác y tế dự phòng, giám sát chặt chẽ diễn biến các bệnh truyền nhiễm gây dịch như tay - chân - miệng, sốt xuất huyết, các bệnh dịch nguy hiểm như HIV/AIDS, lao, sốt rét, không để dịch lớn xảy ra, nếu xảy ra phải có các biện pháp để khống chế kịp thời. Triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu của ngành.
Sau khi triển khai thực hiện Luật BHYT và cải cách thủ tục thanh toán BHYT, số lượng người tham gia BHYT đã tăng rõ rệt. Ảnh: Trần Minh |
Tiếp tục triển khai các giải pháp để giảm tải, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ đề án để từng bước giảm tải cho các bệnh viện Trung ương và các thành phố lớn. Tập trung giải quyết nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, tránh lạm dụng thuốc, xét nghiệm cận lâm sàng, dịch vụ kỹ thuật cao, thực hiện tốt công tác giáo dục nâng cao y đức, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, luân phiên cán bộ chuyên môn y tế để chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cho tuyến dưới nhằm sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện đã và đang được đầu tư từ trái phiếu Chính phủ.
Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao y đức và trách nhiệm của cán bộ y tế, tiếp tục hoàn thiện hệ thống các cơ sở y tế từ Trung ương đến địa phương.
Tập trung triển khai Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập khi được Chính phủ ban hành, trong đó tập trung vào: đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách; xây dựng và ban hành khung giá dịch vụ y tế theo hướng tính đủ chi phí hoạt động và xác định mức thu theo chi phí trực tiếp cho người bệnh ở từng tuyến; đẩy mạnh việc thực hiện tự chủ toàn diện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Tăng tỷ lệ bao phủ BHYT để giảm bớt gánh nặng tài chính của người dân khi đi khám, chữa bệnh. Từng bước tạo sự chuyển biến trong việc nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ, chất lượng khám, chữa bệnh BHYT để người dân tin tưởng, làm tiền đề cho việc thực hiện BHYT toàn dân.
Củng cố và hoàn thiện mạng lưới tổ chức y tế từ TW đến địa phương; tập trung đầu tư, nâng cấp y tế địa phương theo Quyết định số 47 và 930 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng các trung tâm kiểm nghiệm đủ năng lực và điều kiện hoạt động; tăng cường đầu tư, nâng cấp, củng cố hoàn thiện hệ thống y tế dự phòng tuyến tỉnh, các trung tâm y tế dự phòng huyện... Thực hiện xã hội hóa, huy động các nguồn vốn để bước đầu đầu tư xây dựng một số trung tâm khám, chữa bệnh theo yêu cầu bằng kỹ thuật cao, kỹ thuật tiên tiến để hạn chế người dân phải đi khám, chữa bệnh ở nước ngoài.
Đảm bảo đủ thuốc thiết yếu phục vụ công tác điều trị, triển khai các biện pháp hữu hiệu để bình ổn giá thuốc. Hoàn thiện hệ thống chỉ số thống kê, có khả năng so sánh quốc tế; theo dõi được quá trình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ và các chính sách chiến lược. Từng bước hiện đại hóa hệ thống thông tin y tế, ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với khả năng tài chính, kỹ thuật và nhu cầu sử dụng của từng tuyến. Tăng cường phổ biến, sử dụng thông tin cho quản lý trực tiếp ở từng đơn vị, từng tuyến và cho hoạch định chính sách, quản lý ngành y tế.
PV: Trân trọng cảm ơn và kính chúc sức khỏe Bộ trưởng!
Nguyễn Toàn Thắng (thực hiện)
