Hy vọng mới cho bệnh nhân suy tim trẻ tuổi
Qua thăm khám, các bác sĩ thấy bệnh nhân tỉnh táo, huyết động ổn định, huyết áp 110/60 mmHg, không phù ngoại vi và phổi thông khí tốt. Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa, chức năng gan và thận của bệnh nhân trong giới hạn cho phép. Chẩn đoán xác định các thăm dò chuyên sâu cho thấy người bệnh mắc bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ kèm suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF), LVEF 36% - Tăng huyết áp.

GS.TS. Phạm Mạnh Hùng - Viện trưởng Viện Tim mạch (Bệnh viện 19-8) cùng ekip trực tiếp thực hiện tiêm tế bào gốc tự thân điều trị bệnh cơ tim giãn cho người bệnh. Ảnh BVCC.
Người bệnh đã được điều trị tối ưu theo khuyến cáo hiện hành với đầy đủ bốn nhóm thuốc nền tảng của suy tim phân suất tống máu giảm. Mặc dù đã được điều trị nội khoa tối ưu, bệnh nhân vẫn còn triệu chứng khi gắng sức. Sau khi được hội chẩn đa chuyên khoa và đánh giá đầy đủ, bệnh nhân được chỉ định thực hiện liệu pháp tế bào gốc tự thân như một phương pháp điều trị bổ trợ, không thay thế điều trị nội khoa.
Ca can thiệp do GS.TS Phạm Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Tim mạch, trực tiếp thực hiện cùng ê kíp can thiệp tim mạch, với sự phối hợp chặt chẽ từ Trung tâm Huyết học – Truyền máu và Khoa Gây mê Hồi sức. Dưới sự hỗ trợ của gây mê, tủy xương bệnh nhân được chọc hút và xử lý nghiêm ngặt theo quy trình vô khuẩn. Khối tế bào gốc tự thân sau đó được ly tâm cô đặc, kiểm tra chất lượng và đánh giá tỷ lệ tế bào sống trước khi chuyển tới phòng can thiệp.
Kíp điều trị lựa chọn tiếp cận qua đường động mạch quay. Phương pháp xâm lấn tối thiểu này giúp giảm tối đa nguy cơ biến chứng chảy máu, tạo điều kiện cho bệnh nhân vận động sớm và rút ngắn thời gian nằm viện. Ngay sau khi tiêm tế bào gốc, các chỉ số lâm sàng ghi nhận kết quả rất khả quan: không xảy ra tình trạng bóc tách thành động mạch vành, dòng chảy động mạch vành được bảo tồn tốt, đạt mức TIMI III, bệnh nhân hoàn toàn ổn định về huyết động, diễn tiến sức khỏe thuận lợi và được xuất viện sau thời gian theo dõi.
Vai trò của liệu pháp tế bào gốc trong điều trị bệnh cơ tim giãn
Bệnh cơ tim giãn là tình trạng buồng tim bị phình to làm giảm khả năng co bóp, dẫn đến suy tim tiến triển. Dù các phương pháp điều trị nội khoa hiện đại giúp làm chậm tiến trình bệnh và cải thiện triệu chứng, nhưng vẫn chưa thể phục hồi trực tiếp phần cơ tim đã bị tổn thương. Sự xuất hiện của liệu pháp tế bào gốc mở ra hy vọng mới trong việc tái tạo và phục hồi chức năng tim cho người bệnh.

Cơ chế tác dụng của liệu pháp tiêm tế bào gốc tự thân qua động mạch vành trong điều trị bệnh cơ tim giãn và suy tim. Ảnh minh họa BVCC.
Liệu pháp tế bào gốc tự thân từ tủy xương được kỳ vọng góp phần cải thiện môi trường sinh học của cơ tim thông qua nhiều cơ chế như:
- Tiết các yếu tố tăng trưởng và các chất điều hòa sinh học giúp bảo vệ tế bào cơ tim còn sống.
- Thúc đẩy hình thành vi mạch mới, cải thiện tưới máu vi tuần hoàn.
- Điều hòa đáp ứng miễn dịch, hạn chế quá trình xơ hóa và tái cấu trúc bất lợi của cơ tim.
- Hỗ trợ quá trình sửa chữa và phục hồi mô cơ tim thông qua các cơ chế sinh học; khả năng tái tạo trực tiếp tế bào cơ tim vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu.
Mục tiêu của liệu pháp là hỗ trợ cải thiện chức năng thất trái, giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Đây là phương pháp điều trị bổ trợ, được phối hợp cùng điều trị nội khoa tối ưu theo các khuyến cáo hiện hành. Đối với người bệnh còn trẻ tuổi, việc bảo tồn tối đa chức năng cơ tim có ý nghĩa đặc biệt, góp phần trì hoãn tiến triển của bệnh và kéo dài thời gian trước khi phải cân nhắc các biện pháp điều trị chuyên sâu như thiết bị hỗ trợ thất hoặc ghép tim.
Việc ứng dụng thành công kỹ thuật tiêm tế bào gốc tự thân qua động mạch vành cho thấy sự phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị chuyên khoa tại Bệnh viện 19-8. Kỹ thuật can thiệp chuyên sâu này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị, mang lại cơ hội phục hồi chức năng tim cho người bệnh suy tim trẻ tuổi.
Liệu pháp tế bào gốc tự thân là một hướng điều trị bổ trợ đầy triển vọng trong bệnh cơ tim giãn. Tuy nhiên, người bệnh cần được lựa chọn kỹ lưỡng theo chỉ định chuyên môn và tiếp tục điều trị nội khoa tối ưu, theo dõi lâu dài để đánh giá hiệu quả cũng như tính an toàn của phương pháp.
