(SKDS) - Dân tộc nào cũng có kho tàng tục ngữ, là tấm gương phản ánh một cách hồn nhiên sinh hoạt và tâm lý nhân dân. Có phải ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, tục ngữ cũng có thể sinh ra hoặc phát triển không? Nhà nghiên cứu tục ngữ Nhật Bản Ôtô Hưdii trả lời là không. Theo ông, tục ngữ là thơ của đạo lý dân gian, khiến cuộc sống thường ngày thêm ý vị.
Do đó, tục ngữ chỉ có thể ra đời và nảy nở trong những thời kỳ rung cảm với thơ để thể hiện tình cảm và ý nghĩa phổ biến khi đời sống xã hội mang nhiều tính tập thể hơn cá nhân. Đời sống hiện đại ít tạo ra tục ngữ, mà thiên về châm chọc, châm ngôn, cách ngôn, mang nhiều dấu ấn cá nhân. Vì vậy, ở Nhật có thể xếp tục ngữ theo thời kỳ lịch sử.
Thời Hêian (thế kỷ 8-12), lãng mạn, sống tình cảm, thái quá và mơ mộng, nghệ thuật thì không thuận lợi cho tục ngữ xuất hiện.
Học giả Môtôôri Nôrinaga (1730-1801) phân tích từ nguyên chữ Kơtowaza, tục ngữ nghĩa gốc là lời sấm, lời thần dạy. Thời Kamakura (thế kỷ 12-14), đạo Phật thịnh hành và chính quyền quân sự lại mạnh, tục ngữ ra đời vì dân chúng chưa phát triển ý thức mấy. Đến thế kỷ 14, có hoàn cảnh cho một số tư tưởng phổ biến trong nhiều tầng lớp nhân dân, khiến sự thông cảm chung làm xuất hiện nhiều tục ngữ: Đạo Phật truyền bá ý thức bình đẳng và cái phù du của cuộc sống. Ở nông thôn, dân thường tụ tập ở nhà kỳ mục hoặc lãnh chúa trong những dịp cưới xin, lễ hội… Ở đó, các người kể chuyện thường thêm thắt những câu ý vị trở thành tục ngữ. Loại hài kịch ngắn Kyôghen cũng đẻ ra tục ngữ. Nhiều giáo huấn Phật - Khổng được thể hiện lại bằng tục ngữ.
Thời Yêđô (thế kỷ 17-19) là thời tục ngữ phát triển mạnh nhất, thành động lực văn hoá thị thành và cả nước. Tục ngữ mang tính hiện đại hơn, nêu vấn đề phức tạp hơn, hóm hỉnh hơn, có khi cùng một vấn đề mà ý ngược nhau. Như khi nói về vợ: “Vợ và nồi thì tốt khi dùng lâu. Vợ và chiếu chỉ tốt khi còn mới nguyên”. Hay nói về thái độ trước kẻ thù: “Lấy ân báo oán”, “Mi mà chết, ta sẽ móc mắt mi ra!”. Nhiều tục ngữ không dạy luân lý mà nói về ứng xử thực tế.
Tục ngữ thị dân cũng mang ảnh hưởng nhiều tầng lớp. Ảnh hưởng tầng lớp võ sĩ như: “Hãy buộc mũ cho chặt sau khi thắng” (ý nói chớ vội kiêu), “Vàng và chiến sĩ, nghỉ ngơi nhưng không rỉ”, “Gươm cùn chỉ để làm bếp” (răn võ sĩ quý tộc suy đồi). Ảnh hưởng sư sãi đạo Phật như: “Sớm, mặt hồng hào. Chiều, đống xương trắng”, “Cùng ngồi một tòa sen” (ước mơ cặp tình nhân được cùng lên cõi Phật), gắn đạo với thực tế như: “Tranh Phật vẽ rồi mà không vẽ mắt” (ý nói làm đãi bôi), “Ngủ là thiên đàng” (vì thức phải làm lụng khổ sở), “Cúng Phật A Di Đà nhiều vàng, Phật càng sáng bóng” (sức mạnh đồng tiền).
Có loại tục ngữ phản ánh hiện tượng thiên nhiên để nói việc đời như: “Có trăng thì có mây, có hoa thì có gió” (liên quan các sự việc), “Thoang thoảng mùi hoa” (khuyên đừng thân mật quá), “Hoa anh đào nở trong núi sâu” (người đẹp không được biết đến), “Hai tay đều cầm hoa” (gặp nhiều điều may một lúc), “Cái gì không thấy đều là hoa” (cái gì chưa biết đều cho là hay), “Hoa nở trên cây khô” (điều bất ngờ), “Bánh bao còn hơn hoa” (thực tế là hơn), “Liễu không bị gãy khi tuyết xuống” (người yếu mà dẻo dai).
Có những tục ngữ về thơ và nhà thơ như: “Thơ làm êm dịu quan hệ nam nữ”, “Thi ca khuấy trời động đất”, “Nghèo sinh trộm cắp”, “Tình yêu tạo ra thơ”, “Cày ruộng hơn làm thơ”. Tình yêu và phụ nữ được nhiều tục ngữ nói đến như: “Tôi ghét nghĩa là tôi yêu!”, “Ghen là linh hồn của yêu”, “Lòng dạ đàn ông thay đổi như trời thu”. Do ảnh hưởng của Khổng giáo, đàn bà bị coi thường như: “Suy nghĩ đàn bà không quá đầu mũi”, “Tóc đàn bà buộc được voi” (tính dai như đỉa). Có những nhận xét khác về phụ nữ như: “Không cần gốc danh gia, có thể ngồi kiệu hoa”, “Nhìn phụ nữ nên nhìn ban đêm, hay từ xa, hoặc dưới ô”.
Rất nhiều tục ngữ nói về tình đời: “Chỉ khi có con mới biết công cha, nghĩa mẹ”, “Khi người điên chạy, người tỉnh cũng chạy nốt” (thói bắt chước), “Ma chay xong mới nghĩ đến tìm thầy lang”, “Gió cứ thổi, núi chẳng chuyển”, “Sống bảy lần được, bảy lần mất” (Đợi chết mới biết ai may rủi), “Ve sầu lắm lời kêu, nhưng đom đóm lặng lẽ khô khan vì bị lửa thiêu” (ý phụ nữ mê trai khổ hơn con đom đóm), “Tụng kinh bên tai ngựa” (phí lời nói với kẻ ngu), “Càng vội càng nên đi đường vòng”, “Không có thuốc chữa ngu”, “Đóng đinh vào cám” (công toi!).
Thời Minh Trị (1868), một số tục ngữ phương Tây nhập vào Nhật: “Một đầu óc lành mạnh trong một cơ thể lành mạnh”, “Trời cứu kẻ tự cứu”, “Đuổi hai con thỏ là chẳng bắt được con nào”, “Ném một hòn đá, chết hai chim”…
Hữu Ngọc