Tình cờ thấy trên bàn học của cháu tập Truyện đọc lớp 5, tôi lật xem, đúng vào bài Vị sứ thần thông minh. Đó là cụ Nguyễn Duy Thì, đỗ Hoàng Giáp tiến sĩ năm Mậu Tuất (1598). Vị sứ thần 35 tuổi này đi triều cống Trung Quốc theo thường lệ. Hoàng đế nhà Minh muốn thử tài ông, nên ra câu đố: Đi cùng vua, thầy học và cha trên một chuyến đò, nếu có bão đắm đò thì cứu ai trước? Câu hỏi hóc búa vì theo đạo lý Khổng học quân - sư - phụ, nếu cứu ai trước, chưa kịp cứu hai người kia thì đã bị tội hoặc bất trung, bất hiếu, hoặc bất hiếu, bất nghĩa. Sứ thần khôn ngoan, trả lời: "Gần người nào thì cứu người ấy trước, và sẽ cứu cả ba!". Hoàng đế lại hỏi: "Thức ăn gì ngon nhất? Vật gì quý nhất trên đời?". Sứ thần trả lời: "Muối ngon nhất, thiếu muối thì món gì cũng nhạt nhẽo. Quý nhất là sĩ phu (trí thức) khiến đất nước thanh bình, phồn thịnh". Hoàng đế Minh cảm phục và ưu đãi sứ thần (theo Quỳnh Cư - Danh nhân đất Việt).
Hoành phi ghi Tướng công Từ (Đền Tướng công Nguyễn Duy Thì). Ảnh: An Kiều |
Vua Lê Thánh Tông cho khắc tên các tiến sĩ vào bia đá (đỗ từ năm 1484 cho đến 1788, (khoảng 1.300 vị được khắc tên trong số 2.300 vị đỗ đạt ở các triều đại).
Thế kỷ XVI nhà Mạc chiếm ngôi. Sau Nam Bắc triều, thời nhà Lê Trung Hưng (có vua, có chúa) mở lại kỳ thi ở Bắc Hà, Nguyễn Duy Thì đỗ Hoàng Giáp, khi 27 tuổi. Đặc biệt trên văn bia có lời răn: "Hãy lấy một khoa làm thí dụ, điểm xem sự nghiệp họ ra sao? Người ấy có lấy việc can gián làm trách nhiệm để tạo phúc cho nước cho dân. Hay người đó lấy sự đưa đón chiều đời để bảo toàn địa vị? Có người nào trái đạo tham quyền không biết giúp vua giúp nước... Công luận sẽ còn mãi ai trung ai nịnh, ai hiền ai gian?".
Tấm bia làm năm 1653 này đáng để chúng ta suy nghĩ!
Về các tấm bia tiến sĩ, ta còn thấy điểm nữa: Xưa kia chọn người tài rất nghiêm, vì phải qua thi Hương, thi Hội, thi Đình. Hàng vạn người đi thi, chỉ được vài tiến sĩ.
Cụ Nguyễn Duy Thì (1572-1652) quê làng Hợp Lễ, xã An Lãng (còn gọi là Láng, tên y như làng Láng - ngoại ô Hà Nội - có trồng rau húng, cùng tên Yên Lãng) huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Cụ là Thượng thư Bộ Lại, chức Thái Tể (Tể tướng), Tế Tửu (Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám, công thần đời Lê Trung Hưng suốt 40 năm. Thời đó các quan được cấp đất và lập phủ đường. Cụ được phong đất và đặt phủ ngay tại quê nhà (nay là đền thờ), một tháng chỉ lên kinh đô Thăng Long một lần. Tại quê, hiện nay là đền thờ cụ. Nhà tiền tế có 5 gian 24 cột gỗ lim, với bức hoành phi Thượng trụ quốc, qua một khoảng sân hẹp là vào từ đường. Hai bên bàn thờ chính có đặt bàn thờ tứ thân phụ mẫu và bàn thờ con trai trưởng: Tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu.
Nguyễn Duy Thì là nhà giáo dục, nhà văn, còn để lại 3 bài văn bia và 2 bài thơ, cụ còn có tài dụng võ, dẹp yên phiến loạn, là nhà ngoại giao đảm lược, đi sứ vào giai đoạn lịch sử gay go vì triều đình nhà Minh cố tình chơi trò bắt cá hai tay giữa một bên triều Mạc, một bên triều Lê...
Con trai trưởng cụ Nguyễn Duy Thì là Nguyễn Duy Hiểu (1602-1639) đỗ tiến sĩ năm 27 tuổi đồng khoa với Tiến sĩ GiangVăn Minh, và đều có tên trên bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Năm 1637 cụ Nguyễn Duy Hiểu làm Chánh sứ một đoàn, cùng đi với đoàn thứ hai do cụ Giang Văn Minh (người Đường Lâm, Sơn Tây) làm Chánh sứ (người có vế đối nổi tiếng Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (sông Bạch Đằng xưa còn đỏ máu) để hiên ngang đáp lại vế đối hạ nhục nước ta của vua nhà Minh: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu đã xanh) và cụ nhận cái chết thảm khốc). Chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu cũng hy sinh trong chuyến đi ấy, (sử sách không ghi rõ lý do cái chết của cụ, nhưng căn cứ vào 7 đạo sắc phong còn lại ta cũng thấy công lao của cụ "... do vâng mệnh đi Bắc sứ tuế cống, bị cưỡng bức ép buộc nên đã chết thảm thương... nên gia tăng chức Tả Thị lang Bộ Hình, tước Nghĩa Phú hầu, tên thụy là Văn Định").
Tể tướng Nguyễn Duy Thì còn nổi tiếng là người thanh liêm, can trường, đã thẳng thắn dám nhiều lần can ngăn Chúa Trịnh Tùng không làm những việc sai trái, cụ từng cứu dân các làng Thạch Đà, Đình Xá... khỏi bị bức hại.
Nguyễn Duy Thì đã nhắc lại tư tưởng vì dân của Nguyễn Trãi trong bản khải Trịnh Tùng nổi tiếng: "Dân là gốc của nước, đạo trị nước gốc ở yên dân. Trời với dân đều một lẽ, lòng dân vui thì thuận ý trời, nên người giỏi trị nước phải yêu dân như con". Đáng để hậu thế suy nghĩ!
Có một chi tiết lý thú: Hậu duệ của cụ đến đầu thế kỷ XX đã làm được một việc lớn: Đó là họa sư Nam Sơn Nguyễn Vạn Thọ (1890-1973) cùng họa sư Pháp Victor Tardieu (1870 - 1937) đồng sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925) đặt nền móng cho nền Hội họa hiện đại Việt Nam.
Hữu Ngọc