Xã hội
Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 1.

Gần 20 năm gắn bó với tiếng chày giã cốm rộn rã đêm ngày ở Mễ Trì (Từ Liêm, Hà Nội), bà Nguyễn Thị Lan đã quá quen với cảnh khách quen ghé tận nhà mua từng gói cốm lá me, cốm xào. Nhưng hôm nay, căn nhà nhỏ của bà rộn ràng hơn hẳn bởi một trải nghiệm hoàn toàn mới: Phiên livestream giới thiệu cốm Mễ Trì trên không gian mạng.

Từ 4 giờ sáng, bà Lan đã nêm nếm lại mẻ cốm dẻo thơm, cẩn thận nhặt từng chiếc lá sen tươi bọc cốm. Vừa thoăn thoắt đôi tay, bà vừa chốc chốc lại nhìn ra gian ngoài, nơi cháu gái đang căn chỉnh đèn chiếu sáng và chân máy ảnh.

"Ngày xưa bán cốm chỉ trông vào bà con quanh vùng hoặc khách phương xa lặn lội tìm đến. Giờ tụi trẻ bảo ngồi tại nhà mở cái điện thoại lên là cả nước, thậm chí người Việt ở nước ngoài cũng thấy được hạt cốm Mễ Trì xanh trong, thơm lừng này. Tối nay tôi còn được lên nói chuyện, giới thiệu cách làm cốm chuẩn vị xóm mình. Háo hức đến mức mất ngủ cả đêm" — Bà Lan chia sẻ.

Đến giờ lên sóng, bà Lan diện chiếc áo bà ba chỉn chu nhất, nụ cười rạng rỡ bên nia cốm xanh ngắt. Sự chân thật, xởi lởi cùng những câu chuyện làm cốm lâu đời của bà đã khiến hàng ngàn lượt xem "thả tim" liên tục. Bà vui sướng reo lên khi thấy đơn hàng nhảy liên tục trên màn hình điện thoại của cháu.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 2.

Livestream "Cốm Mễ Trì - Hương sắc đất Từ Liêm" được người dân hưởng ứng đông đảo.

Là chủ một cơ sở sản xuất cốm lớn tại Mễ Trì, ông Đinh Trọng Hùng luôn trăn trở tìm đầu ra ổn định cho bà con trong làng mỗi khi vào mùa thu. Khi biết Phường Từ Liêm phát động và hỗ trợ tổ chức phiên livestream quảng bá nông sản, làng nghề địa phương, ông Hùng là một trong những người đăng ký đầu tiên.

Trước phiên livestream 2 tiếng, ông Hùng đã có mặt tại điểm quay. Đeo chiếc micro cài áo bé xíu, ông đi qua đi lại nhẩm thuộc các thông tin ưu đãi, cách đóng gói hút chân không để gửi đi xa mà cốm vẫn giữ trọn vị dẻo thơm. Ông còn tỉ mỉ chuẩn bị sẵn cả chuối tiêu chín dẩu, trà xanh để hướng dẫn khán giả cách thưởng thức cốm đúng điệu Hà Thành.

"Mới đầu nghe livestream tôi ngại lắm, quen tay làm chày tay thớt chứ có quen ăn nói trước ống kính đâu. Nhưng nghĩ đến việc đặc sản Mễ Trì mình được tiếp cận hàng triệu người xem trên TikTok, Facebook là tôi hào hứng hẳn. Mình làm thật, chất lượng thật thì có gì mà ngại!" — Ông Hùng hào hứng nói.

Là nơi giao thoa của nhiều nghề truyền thống như khảm trai, giày da, đồ gỗ mỹ nghệ, đan lưới cùng nhiều nông sản giá trị, xã Phú Xuyên sở hữu nguồn hàng hóa đa dạng, trong đó có nhiều sản phẩm OCOP. Nhằm ổn định sinh kế cho người dân, xã Phú Xuyên đã đẩy mạnh livestream bán hàng, thiết lập kênh tương tác trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng, rút ngắn chuỗi cung ứng, gia tăng giá trị thương hiệu.

Tại làng nghề nón lá Tri Lễ (xã Dân Hòa) người xem được dẫn dắt từ câu chuyện làng nghề đến các công đoạn tạo nên một chiếc nón, với điểm nhấn là khách mời cùng nghệ nhân trải nghiệm làm nón ba tầm. Phiên livestream giới thiệu hơn 10 loại nón, mũ lá như nón lá già, nón Lâm Xung, mũ lưỡi trai, mũ Pháp, nón đĩa, nón lồng bàn, nón quai thao, mũ cối lệch, mũ lá Bác Hồ..., thu hút hàng nghìn lượt xem cùng nhiều tương tác, chia sẻ.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 3.

Qua đợt cao điểm 100 ngày chuyển đổi số, các xã, phường đã tổ chức hơn 200 phiên livestream, giới thiệu hơn 1.200 sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề và sản phẩm có tiềm năng trên các nền tảng số.

Phó Chủ tịch UBND xã Dân Hòa Hoàng Thị Kim Thanh nhấn mạnh, việc đưa nón lá Tri Lễ lên môi trường số giúp người dân, du khách dễ tiếp cận sản phẩm, mở hướng phát triển mới cho làng nghề, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa địa phương.

Khi những giá trị ấy được giới thiệu trên các nền tảng số, phạm vi tiếp cận không còn giới hạn ở những người trực tiếp đến làng nghề hay biết đến sản phẩm qua truyền miệng. Người xem có thể tìm hiểu câu chuyện phía sau món ăn, biết thêm về người làm nghề và có cơ hội tiếp cận sản phẩm, điểm đến văn hóa theo những cách thức mới.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 4.

Ông Trần Đức Hải, Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội cho biết, qua đợt cao điểm 100 ngày chuyển đổi số, các xã, phường đã tổ chức hơn 200 phiên livestream, giới thiệu hơn 1.200 sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề và sản phẩm có tiềm năng trên các nền tảng số. Đây là tiền đề để Thành phố chuyển từ những hoạt động riêng lẻ sang mô hình có tổ chức, nhận diện chung và cơ chế vận hành lâu dài".

Ông Hải nhấn mạnh, "OCOP Hà Nội" không phải là shop bán hàng của Sở Công Thương. Cơ quan nhà nước không trực tiếp bán hàng, nhận đơn hay nhận tiền. Nhà bán hàng tự đứng tên, vận hành shop và chịu trách nhiệm về sản phẩm, giá bán, tồn kho, đơn hàng, giao nhận và chăm sóc khách hàng.

Ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, cho rằng không nên tách rời quảng bá, bảo tồn, kết nối công chúng và phát triển kinh tế. Công nghệ có thể tạo thành chuỗi giá trị liên tục: số hóa để lưu giữ, quảng bá để tiếp cận công chúng, kết nối để tạo trải nghiệm và khai thác phù hợp để tạo nguồn lực quay trở lại cho bảo tồn.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 5.

Ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, cho rằng không nên tách rời quảng bá, bảo tồn, kết nối công chúng và phát triển kinh tế.

"Lượt xem cho biết mức độ tiếp cận, nhưng chưa cho biết chương trình có giúp tăng khách tham quan, doanh thu hay số người học nghề hay không", ông Trang phân tích.

Theo hướng tiếp cận này, livestream chỉ là điểm đầu của một hành trình số. Sau khi xem nội dung về cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ hay một làng nghề truyền thống, người dùng cần có thể tìm được địa điểm, thông tin nghệ nhân, lịch trải nghiệm, sản phẩm và các kênh mua hàng phù hợp.

Hiệu quả của hoạt động quảng bá cần được đánh giá bằng nhiều chỉ số: lượt tiếp cận và tương tác; số người tìm hiểu, đăng ký trải nghiệm; lượng khách thực tế; số đơn hàng và doanh thu; số cơ sở, nghệ nhân tham gia; số người trẻ đăng ký học nghề và tỷ lệ khách quay lại.

Đó là sự chuyển dịch từ việc đo mức độ lan tỏa của nội dung sang đo giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra. Khi nội dung số kết nối được với du lịch, thương mại điện tử, thanh toán, logistics và truy xuất nguồn gốc, một người xem có thể tiếp tục hành trình bằng việc đặt lịch tham quan, mua sản phẩm hoặc giới thiệu điểm đến cho người khác.

"Với Hà Nội, câu chuyện không chỉ là quảng bá một món ăn hay một sản phẩm làng nghề. Đó là tìm cách để những giá trị văn hóa vốn được lưu giữ trong cộng đồng tiếp tục hiện diện trong đời sống hiện đại, đồng thời tạo thêm cơ hội phát triển cho chính những người đang gìn giữ chúng", ông Cù Ngọc Trang chia sẻ.

Theo lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, di sản không chỉ nằm trong những công trình, hiện vật hay địa điểm lịch sử. Giá trị còn nằm trong câu chuyện, ký ức, kỹ thuật, tri thức và con người.

Một sản phẩm làng nghề có lịch sử hình thành nghề, nguyên liệu, kỹ thuật chế tác và dấu ấn nghệ nhân. Một món ăn có câu chuyện về vùng đất, tập quán và cách truyền nghề. Nếu chỉ lưu tên, địa chỉ và một vài bức ảnh, dữ liệu số khó phản ánh hết những lớp giá trị ấy.

Theo ông Cù Ngọc Trang, Hà Nội cần nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái dữ liệu văn hóa - di sản, kết nối tư liệu lịch sử, hình ảnh, video, bản đồ, hiện vật, nghệ nhân, làng nghề, lễ hội, ẩm thực, công thức, kỹ thuật chế tác và tri thức cộng đồng.

Đặc biệt, việc tư liệu hóa kinh nghiệm của nghệ nhân có ý nghĩa quan trọng. Những kỹ thuật truyền thống nếu không được ghi nhận và truyền dạy có thể mất đi theo thời gian. Vì vậy, số hóa không thể chỉ là công việc của cơ quan quản lý hay doanh nghiệp công nghệ, mà cần sự tham gia của chuyên gia, cơ quan văn hóa, cộng đồng và người trực tiếp nắm giữ tri thức.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, xác minh nguồn gốc và quản trị tốt, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ tìm kiếm tư liệu, dịch thuật, thuyết minh, cá nhân hóa nội dung và tạo trải nghiệm học tập. Học sinh có thể tìm hiểu di tích bằng cách diễn giải dễ hiểu; khách quốc tế có thể đặt câu hỏi bằng ngôn ngữ của mình; nhà nghiên cứu có thể truy tìm những tư liệu liên quan đến một địa điểm hoặc kỹ thuật truyền thống.

Ông Trang hình dung một du khách đến di tích Hà Nội có thể dùng điện thoại nhận diện địa điểm, nghe thuyết minh bằng ngôn ngữ của mình, đặt câu hỏi với trợ lý AI và nhận lời giải thích phù hợp với nhu cầu. Một học sinh và một nhà nghiên cứu có thể tiếp cận cùng một di tích theo hai cách khác nhau, tùy mục đích tìm hiểu.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 11.

Di sản không chỉ nằm trong những công trình, hiện vật hay địa điểm lịch sử. Giá trị còn nằm trong câu chuyện, ký ức, kỹ thuật, tri thức và con người.

AI cũng có thể hỗ trợ giới thiệu một món ăn, sản phẩm làng nghề hoặc câu chuyện văn hóa cho nhiều nhóm công chúng. Tuy nhiên, công nghệ chỉ có thể kể đúng khi dữ liệu đầu vào đáng tin cậy.

"AI không thể thay thế nền tảng dữ liệu. Dữ liệu là tài sản, còn AI là công cụ để khai thác giá trị của tài sản đó", ông Trang nhấn mạnh.

Với di sản, yêu cầu này đặc biệt quan trọng. AI có thể đổi mới cách kể chuyện nhưng không được tự tạo ra sự kiện lịch sử hoặc thông tin văn hóa không có căn cứ. Nội dung cần được thẩm định, cập nhật và có nguồn thông tin rõ ràng; công nghệ phải giúp di sản dễ tiếp cận hơn nhưng không làm biến dạng giá trị gốc.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 12.

Từ dữ liệu số, bước tiếp theo là kết nối thông tin với trải nghiệm và hoạt động kinh tế. Hà Nội đang phát triển HanoiGo theo hướng trở thành kênh giới thiệu, kết nối và khám phá làng nghề, di sản, điểm đến văn hóa của Thủ đô.

Ông Cù Ngọc Trang cho biết, nền tảng được định hướng ứng dụng những công nghệ như bản sao số, VR360 và 3D, giúp người dùng tiếp cận thông tin về lịch sử hình thành, giá trị văn hóa, nghệ nhân tiêu biểu, sản phẩm đặc trưng, địa điểm tham quan và hoạt động trải nghiệm.

Nền tảng văn hóa này được tích hợp thành mini app trên iHanoi, ứng dụng có trên 6,26 triệu tài khoản, với các tiện ích tra cứu di sản, sản phẩm OCOP, làng nghề và trợ lý thông minh tích hợp AI.

Việc kết nối các nền tảng có thể tạo điều kiện để người dân và du khách tìm kiếm thông tin thuận tiện hơn. Tuy nhiên, giá trị không nằm ở số lượng nền tảng hay tiện ích được đưa vào hệ thống, mà ở khả năng kết nối hành trình từ tìm hiểu đến trải nghiệm và tiêu dùng.

Chẳng hạn, người dùng tìm hiểu một làng nghề trên HanoiGo có thể tiếp tục khám phá câu chuyện của nghệ nhân, lựa chọn hoạt động trải nghiệm làm nghề rồi tìm mua sản phẩm qua các kênh thương mại điện tử. Với sản phẩm gốm Bát Tràng, mã định danh và mã truy xuất phù hợp có thể giúp người mua tìm hiểu cơ sở sản xuất, nghệ nhân chế tác, kỹ thuật làm gốm và câu chuyện văn hóa phía sau sản phẩm.

AI có thể hỗ trợ giới thiệu những thông tin này bằng nhiều ngôn ngữ, giúp khách hàng quốc tế hiểu rõ hơn giá trị của sản phẩm. Khi kết nối với bản đồ số, thanh toán số, thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc, dữ liệu văn hóa có thể trở thành một phần của hành trình du lịch và mua sắm thực tế.

Trong quá trình khảo sát các làng nghề Bát Tràng, Sơn Đồng, Vạn Phúc, Chuyên Mỹ…, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội ghi nhận bài toán không chỉ là đưa sản phẩm lên một gian hàng trực tuyến. Người mua còn muốn biết sản phẩm được làm ở đâu, bởi ai, có chất lượng ra sao và mang câu chuyện văn hóa nào.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 13.

Hà Nội hiện có khoảng 2.875 tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó có 1.273 viện nghiên cứu và 101 trường đại học; 221 doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng hơn 1.000 startup.

Vì vậy, mỗi sản phẩm cần từng bước có hồ sơ số gắn với nguồn gốc, nghệ nhân, quy trình sản xuất và giá trị văn hóa. Dữ liệu phải được chuẩn hóa, có đầu mối cập nhật và cơ chế xác thực rõ ràng để tránh thông tin phân tán, trùng lặp hoặc thiếu căn cứ.

Mục tiêu lâu dài là hình thành hệ sinh thái số kết nối di sản, làng nghề, nghệ nhân, sản phẩm, du lịch và thương mại. Khi đó, một điểm đến văn hóa không chỉ thu hút khách tham quan mà còn mở rộng đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ và cộng đồng địa phương.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 14.

Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội nhận định, một trở ngại của chuyển đổi số ở các làng nghề là nhiều hộ sản xuất nhỏ, nghệ nhân và hộ kinh doanh không có đội ngũ công nghệ riêng. Nếu giải pháp phức tạp, chi phí cao hoặc đòi hỏi kiến thức chuyên sâu, công nghệ khó được duy trì sau giai đoạn hỗ trợ ban đầu.

Theo ông Cù Ngọc Trang, cần bắt đầu từ những công việc cụ thể mà người dân có nhu cầu như quảng bá sản phẩm, quản lý đơn hàng, thanh toán, truy xuất nguồn gốc và tiếp cận khách hàng mới. Công nghệ phải đơn giản, dễ sử dụng và tạo ra hiệu quả kinh tế thực chất.

Một cơ chế chính sách được Hà Nội ban hành là Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 của HĐND thành phố về thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trên địa bàn.

Theo Điều 7 của Nghị quyết, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh trên địa bàn có thể được hỗ trợ tối đa 70% chi phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ thuộc diện hỗ trợ; mức hỗ trợ có thể lên tới 100% trong trường hợp thực hiện bằng hình thức xã hội hóa, theo điều kiện và dự toán được phê duyệt.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 15.

Năm 2026, Thành phố Hà Nội tiếp tục dẫn đầu Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2026 (PII) với 63,8 điểm.

Cơ chế được thực hiện thông qua phiếu hỗ trợ chuyển đổi số và phiếu hỗ trợ phát triển thương mại điện tử, thường được gọi là voucher công nghệ. Đây không phải khoản tiền mặt cấp trực tiếp cho hộ kinh doanh. Đối tượng thụ hưởng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ trong danh mục thành phố công bố, sử dụng đúng mục đích và xác nhận kết quả; kinh phí hỗ trợ được thanh toán cho nhà cung cấp đủ điều kiện theo quy định.

Theo ông Trang, cách làm này tạo lợi ích ở cả hai phía. Hộ kinh doanh giảm chi phí khi tiếp cận giải pháp số; doanh nghiệp công nghệ có thêm cơ hội đưa sản phẩm đến người dùng, thử nghiệm trong môi trường thực tế, hoàn thiện chất lượng và mở rộng thị trường.

Sở Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với doanh nghiệp công nghệ để kết nối nhu cầu của hộ kinh doanh với các sản phẩm, dịch vụ phù hợp, đồng thời thúc đẩy số hóa sản phẩm làng nghề, xây dựng hồ sơ số, truy xuất nguồn gốc và quảng bá trên HanoiGo cùng các kênh thương mại điện tử.

Hiệu quả chính sách cần được đo bằng việc hộ kinh doanh có tiếp tục sử dụng giải pháp sau thời gian hỗ trợ hay không; doanh thu, số đơn hàng có tăng không; chi phí vận hành có giảm không; khả năng tiếp cận khách hàng mới thay đổi ra sao và doanh nghiệp công nghệ có duy trì được khách hàng, doanh thu từ sản phẩm hay không.

Bên cạnh hỗ trợ bên sử dụng, Hà Nội cần tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, viện nghiên cứu và trường đại học phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa sản phẩm. Khi nhu cầu thực tế gặp được giải pháp phù hợp và chính sách giúp giảm chi phí tiếp cận, thị trường công nghệ có thêm động lực phát triển.

Hà Nội hiện có khoảng 2.875 tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó có 1.273 viện nghiên cứu và 101 trường đại học; 221 doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng hơn 1.000 startup. Thành phố cũng tiếp tục dẫn đầu Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2026 (PII) với 63,8 điểm.

Đây là nguồn lực tri thức và đổi mới sáng tạo quan trọng. Bài toán tiếp theo là kết nối nguồn lực ấy với nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và thành phố, để kết quả nghiên cứu không chỉ dừng ở ý tưởng hay mô hình thử nghiệm mà có thể đi vào sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Từ một buổi livestream giới thiệu món ăn truyền thống đến dữ liệu số, AI và chính sách hỗ trợ chuyển đổi số, Hà Nội đang đứng trước cơ hội làm mới cách bảo tồn và khai thác giá trị di sản. Nhưng thước đo cuối cùng không phải là có bao nhiêu công nghệ được ứng dụng, mà là nghệ nhân có thêm cơ hội sinh kế, sản phẩm có thêm thị trường, tri thức nghề được lưu giữ và thế hệ trẻ có thêm cách tiếp cận văn hóa của Thăng Long - Hà Nội.

Đó cũng là cách công nghệ trở thành động lực phát triển kinh tế sáng tạo: không thay thế những giá trị truyền thống, mà giúp chúng tiếp tục sống tr trong xã hội hiện đại.

Từ livestream cốm Mễ Trì, nón lá Tri Lễ đến hành trình số hóa di sản  - Ảnh 16.
Tô Hội
Hoàng Việt


 

Ý kiến của bạn