Từ ca bệnh đầu tiên

Thời sự
Những năm phục vụ chiến đấu chống Mỹ ở chiến trường Quảng Trị, với cương vị là một y tá thuộc đội phẫu thuật lưu động của sư đoàn, đối tượng phục vụ của chúng tôi là các đồng chí thương binh, với đủ loại vết thương mở và chấn thương ở nhiều mức độ nặng, nhẹ khác nhau

Những năm phục vụ chiến đấu chống Mỹ ở chiến trường Quảng Trị, với cương vị là một y tá thuộc đội phẫu thuật lưu động của sư đoàn, đối tượng phục vụ của chúng tôi là các đồng chí thương binh, với đủ loại vết thương mở và chấn thương ở nhiều mức độ nặng, nhẹ khác nhau, do nhiều loại vũ khí gây nên. 5 kỹ thuật cấp cứu như băng bó, cầm máu, cố định, hô hấp nhân tạo và vận chuyển được thực hiện khá tốt. Mọi công việc cứu chữa đều phải thực hiện dưới hầm, hào giao thông, kể cả những ca đại phẫu. Ánh sáng duy nhất có được chỉ là một bóng đèn 12 vôn phát ra do máy quay tay, y dụng cụ, thuốc men vô cùng thiếu thốn. Tôi đã hiểu thế nào là chiến tranh, là thương vong, đặc biệt là chiến dịch đầu năm 1972 ở chiến trường Quảng Trị. Năm 1974, tôi được ra Bắc và thi vào Trường đại học Quân y (nay là Học viện Quân y). Trong những năm học ở trường, ngoài những ca bệnh thời bình, tôi vẫn thường xuyên được tiếp xúc với rất nhiều ca bệnh là thương binh từ biên giới Tây Nam (1976), biên giới phía Bắc (1979), chuyển về điều trị tại Bệnh viện Quân y 103, với những vết thương sọ não, cột sống, vết thương hàm mặt và tứ chi vô cùng phức tạp. Chúng tôi đều hướng đến những máy móc xét nghiệm cận lâm sàng, phi lâm sàng hiện đại, giúp cho chẩn đoán bệnh khá chính xác, và hướng đến những kỹ thuật điều trị tiên tiến.

 Ảnh có tính chất minh họa.

Từ lúc nào không biết, tiềm thức trong tôi luôn hướng về phục vụ sức khỏe cán bộ chiến sĩ trong quân đội. Những bệnh chuyên khoa ít gặp, chúng tôi thường phải đi các bệnh viện ngoài quân đội để học tập, và có lẽ cũng vì vậy mà những bệnh thuộc lĩnh vực sản, phụ khoa tôi không thật chú trọng, anh em cùng khóa cũng tâm sự: học để giải quyết được những ca đẻ thường. Sau này tôi mới hiểu kiến thức thuộc lĩnh vực sản, phụ khoa của mình là quá sơ đẳng, chỉ có thể là “hứng” đẻ, còn để chẩn đoán, tiên lượng một cuộc chuyển dạ, đề phòng những tai biến sản khoa là rất khó khăn. Từ một ca bệnh diễn biến bình thường trở thành ca bệnh bất thường, cấp cứu xảy ra chỉ trong giây lát.

Năm 1981, tôi tốt nghiệp Đại học Quân y, nhận bằng bác sĩ và được phân công về một đơn vị quân đội thuộc địa bàn Quân khu 3. Tiếng súng chiến tranh đã kết thúc, một số đơn vị bộ đội chuyển sang làm nhiệm vụ kinh tế. Ca bệnh đầu tiên mà tôi gặp lại là một sản phụ. Một gia đình ở gần doanh trại, bà là giáo viên cấp I, khoảng trên 40 tuổi, đã có 5 cô con gái, lần thứ 6 này bà sinh được bé trai tại bệnh viên tuyến huyện, nguyện vọng đạt được, cả gia đình đều rất phấn khởi cho dù điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng đó là tình trạng chung mà, nhà bà còn có sổ gạo, lo gì. Sau khi sinh được 7 ngày, vào một buổi chiều tối, tôi được người nhà bà mời ra thăm bệnh. Khi bước vào nhà tôi thấy mọi người đang đứng trước ban thờ thắp hương  cầu khấn, mong ông bà tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu được khỏe mạnh “ăn như cũ, ngủ như xưa”.

Tôi thăm bệnh và nhận thấy thân nhiệt bệnh nhân là 37,5oC, người mệt mỏi, ăn uống khó, mỏi cơ nhai (cơ hàm), sản dịch màu hồng nhạt, số lượng nhiều hơn bình thường. Với những triệu chứng lâm sàng quá nghèo nàn, tôi quan tâm nhiều đến dấu hiệu mỏi hàm, vì tôi còn nhớ là độc tố của vi khuẩn uốn ván rất có ái lực với  cơ nhai. Còn gia đình thì lại chia sẻ với tôi như cố lý giải theo chiều hướng đơn giản hóa vấn đề, tự động viên người bệnh. Mọi người  quan niệm, mỏi hàm là do lúc chuyển dạ bà đã cắn răng chịu đau và lấy sức rặn.

Tôi nghĩ đây có thể là biểu hiện của bệnh uốn ván, một trong 5 tai biến sản khoa rất nguy hiểm - hồi đó công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình ở cơ sở chưa phát triển như bây giờ, công tác quản lý thai nghén thiếu chặt chẽ, tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiêm phòng bệnh uốn ván còn quá thấp.

Tôi khuyên gia đình cần phải cho bà đi viện ngay. Tuy nhiên lúc này trời đã tối và lác đác mưa cùng với sự cảnh báo thiếu kiên quyết, chưa đủ thuyết phục của tôi, gia đình đã nấn ná, hy vọng sự bình yên sẽ trở lại cùng niềm vui đang có cháu trai.

Thú thực cũng do không có được sự tự tin về chuyên môn, tôi cũng sợ chẩn đoán của mình không chính xác sẽ gây nên sự vất vả, tốn kém cho gia đình sản phụ, uy tín cá nhân bị ảnh hưởng. Để có đường tiến, thoái tôi khuyên sản phụ nên đi khám bệnh vì cơ sở y tế cũng cách nhà không xa và nếu căn bệnh không đúng như tôi nghĩ thì cũng là điều đáng mừng.

Sáng hôm sau do bận công việc ở đơn vị, mặt khác cũng không thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, tôi không thăm lại sản phụ. Cho đến buổi chiều thấy tình trạng bệnh nặng lên tôi mới kiên quyết yêu cầu gia đình  đưa sản phụ đi bệnh viện tuyến huyện và sau đó được chuyển ngay lên bệnh viện tuyến tỉnh cấp cứu, nhưng do tình trạng bệnh quá nặng sản phụ không qua khỏi, với chẩn đoán là nhiễm khuẩn uốn ván sau sinh.

 Sự việc diễn ra đột ngột làm tôi quá sửng sốt, bàng hoàng. Tôi biết rằng cũng không có ý kiến nào trách cứ gì tôi, nhưng bản thân tôi cứ day dứt với bao câu hỏi giá như mình chịu khó đọc tài liệu để nắm vững hơn về chuyên môn, trăn trở hơn, kiên quyết trong việc thuyết phục gia đình người bệnh, giá như tôi có trách nhiệm hơn cho dù không thuộc phạm vi mình quản lý, sản phụ được điều trị sớm hơn... có thể mọi việc đã khác.

Từ đó tôi mới thực sự nhận thấy cái giá phải trả là quá lớn cho chút kinh nghiệm nghề y. Đặc biệt là khi phải độc lập giải quyết một vấn đề chuyên môn cấp bách thì kiến thức và sự quyết đoán là vô cùng cần thiết.

Năm 1987 tôi chuyển công tác về một bệnh viện tuyến huyện, một buổi sáng chủ nhật, một phụ nữ  trên 30 tuổi đến nhà riêng nhờ khám bệnh, với biểu hiện chậm kinh hơn 2 tháng, đã làm thủ thuật hút thai tại một cơ sở y tế tư nhân cách đó 4 - 5 ngày nhưng hiện tại vẫn còn biểu hiện có thai. Sản phụ có mang theo kết quả siêu âm (đen trắng) với hình ảnh thai nhi tương đối phù hợp với tuổi thai. Tôi hỏi bệnh khá kỹ và khám bệnh cẩn thận vì nhận định đây là một ca bệnh khó. Khi kiểm tra buồng tử cung bằng thước đo, thấy thước đo vào sâu hơn bình thường và không có cảm giác chạm đáy tử cung, tôi nghĩ đến một tai biến thủng tử cung do thủ thuật trước đó 4 - 5 ngày, hoặc thai ngoài tử cung, có thể tự vỡ bất cứ lúc nào rất nguy hiểm cho tính mạng sản phụ. Tuy nhiên sản phụ không có biểu hiện gì đặc biệt, vẫn khỏe mạnh bình thường và chưa muốn đi bệnh viện, còn phải chuẩn bị tinh thần, thời gian và cả kinh phí nữa chứ, bệnh viện tỉnh cách nhà hơn 30km cơ mà. Tôi đã giải thích thật cụ thể, chi tiết và kiên quyết yêu cầu người nhà đưa sản phụ đi viện ngay. Để thể hiện tầm quan trọng và tính cấp bách của ca bệnh, tôi đã cùng đi với sản phụ. Đến bệnh viện tuyến tỉnh, sau khi làm một số thủ tục nhập viện cần thiết và được hướng dẫn đưa lên bàn khám thì sản phụ đột ngột choáng nặng, mạch quay nhanh nhỏ khó bắt, huyết  áp tụt thấp, sản phụ được cấp cứu và chuyển ngay vào phòng mổ. Ca phẫu thuật cấp cứu được tiến hành khẩn cấp cùng với sự hỗ trợ của việc truyền máu tươi tốc độ cao. Chẩn đoán sau phẫu thuật là chửa ngoài tử cung, vỡ (ở phần sừng tử cung) mất máu nặng. Nhờ được cấp cứu kịp thời, bệnh nhân đã qua khỏi với phẫu thuật cắt tử cung bán phần và truyền 8 đơn vị máu tươi (2 lít) cùng nhóm.

 Những trường hợp thai ngoài tử cung ở vị trí đặc biệt, thai đã phát triển  khá lớn, nếu không được phát hiện, để xảy ra tai biến bên ngoài bệnh viện thì khả năng tử vong là khó tránh khỏi. Ca sản bệnh thứ 2 tôi đã không mắc sai lầm.

BS. Bùi Hiền


Ý kiến của bạn