Không cứ đêm nhạc hội này, nhiều chương trình văn hóa trong nước khác cũng có cảnh trái ngược tương tự mà chỗ trống thường là chỗ tốt nhất dành cho đại biểu “long trọng viên”. Hình như đây là nghịch lý của đời sống khi người muốn xem không được xem còn người được xem lại không muốn xem...
Nhìn vào đêm nhạc hội văn hóa Việt – Hàn mới thấy “giật mình” vì họ biết dùng văn hóa như một phương tiện hữu hiệu để quảng bá, tuyên truyền cho đất nước họ. Trước đêm nhạc hội này, “sao” ca nhạc Hàn chưa đến Việt Nam nhưng anh ta đã đến trong dư luận, trong bàn tán của người hâm mộ. Những phim Hàn vào ta tưởng chỉ là chuyện giải trí, vậy mà khối bà khối chị “nghiện” phim Hàn, thậm chí có lúc nam thanh nữ tú người Việt, sống trên đất Việt không hiếm người muốn biến thành dân Hàn với trang phục Hàn kèm thêm mắt xanh, môi tái tóc râu ngô! Văn hóa đã tham gia vào ngoại giao, kinh tế khi dân chúng hiểu nước ngoài hơn qua phim để rồi sức tiêu thụ hàng hóa có nhãn hiệu Hàn Quốc tăng lên, chiếm được tình cảm, sở thích người tiêu dùng.
Nhìn sang phim Trung Quốc, phim Mỹ chiếu tràn lan trên tivi cũng tưởng chỉ là chuyện giải trí, nào ngờ trẻ nhỏ vanh vách nhớ triều nhà Thanh có những vị vua nào, thứ tự bố con ông cháu ra sao trong khi triều Nguyễn, triều Lê, triều Trần của lịch sử ta thì ít ai nhớ hết tên các vị vua. Ngay đến phim hành động Mỹ tưởng không có mục đích tuyên truyền nhưng xem nhiều, người xem có ấn tượng về cảnh sát Mỹ phim nào cũng tận tụy, kiên quyết bắt tội phạm, vì dân. Tuyên truyền như không tuyên truyền qua văn hóa quả là khôn ngoan trong khi không ít phim quyết tuyên truyền nhưng khán giả không cảm nhận được mục đích tuyên truyền. Thậm chí có phim chào mừng ngàn năm Thăng Long phải sang tận nước ngoài quay để rồi thành phim lai nước ngoài khiến báo chí tốn không ít giấy mực.
Có thể nói trong lĩnh vực “ngoại giao nhân dân” thì văn hóa đóng vai trò tối quan trọng. Chúng ta cũng chú trọng đến ngoại giao văn hóa nhưng những chương trình “đem chuông đi đánh xứ người” của ta phần lớn là vốn truyền thống như đàn bầu, tuồng, chèo, rối nước... Điều đó rất cần nhưng chưa đủ bởi khán giả nước ngoài chỉ biết thêm cái lạ chứ chưa tạo thành làn sóng văn hóa trên đất nước người bằng một chiến lược rõ ràng và quyết liệt.
Và chiến lược văn hóa cần được xây vững chắc từ gốc chứ không thể hình thức như xây nhà văn hóa quận huyện, thư viện, bảo tàng, sân vận động thật to nhưng nội dung, hoạt động bên trong lại nghèo nàn.
Bao giờ nhỉ nghệ sĩ nước ta ra nước ngoài được người hâm mộ xứ sở tại ra tận sân bay giăng biểu ngữ chờ đợi và chào đón? Bao giờ nhỉ người nước ngoài bắt chước trang phục Việt như một thứ “mốt” và thuộc lịch sử ta, phong tục ta như họ biết về chính đất nước họ? Và cả những món ẩm thực văn hóa như phở, nem Việt không chỉ được biết là đặc sản Việt Nam mà còn xuất hiện trên các thành phố như KFC chẳng hạn đang có mặt trên nhiều thành phố Việt...
ĐỨC TRÍ