Sáng 3/11, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến triển khai Kế hoạch hành động "Chương trình Sức khỏe Phổi Việt Nam, giai đoạn 2026-2027". Uỷ viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà chủ trì Hội nghị.
Tham dự Hội nghị có lãnh đạo, chuyên gia đến từ Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Cục Phòng bệnh, Quỹ Phòng bệnh, Bệnh viện K, Bệnh viện Bạch Mai, Viện nghiên cứu ung thư, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế cùng các Vụ, Cục và đối tác liên quan.

Uỷ viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: Trần Minh
Thông tin tại hội nghị cho thấy, ung thư phổi hiện là một trong những bệnh ung thư có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu. Châu Á đang gánh chịu tỷ lệ bệnh ung thư phổi cao nhất thế giới. Mỗi năm, toàn cầu ghi nhận hơn 2,48 triệu ca mắc mới và hơn 1,8 triệu ca tử vong do căn bệnh này.
Tại Việt Nam, theo số liệu GLOBOCAN 2024, ước tính mỗi năm có 23.085 ca ung thư phổi mắc mới và 21.340 ca tử vong. Bên cạnh đó, COPD và hen phế quản cũng có tỷ lệ mắc đáng kể, trong khi tỷ lệ phát hiện sớm trước khi xuất hiện biến chứng mới đạt 35%.
Phần lớn bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn muộn
Làm rõ hơn thực trạng ung thư phổi tại Việt Nam, PGS.TS.BS Đỗ Hùng Kiên, Phó Giám đốc Bệnh viện K, cho biết năm 2024, ung thư phổi đứng thứ hai về số ca mắc mới và đứng đầu về số ca tử vong do ung thư ở nước ta.
Đáng chú ý, hơn 70% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn III hoặc IV. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ tử vong do căn bệnh này còn cao.
Trong khi đó, nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, đặc biệt là giai đoạn I, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt 70-90%, thậm chí 92% ở giai đoạn rất sớm. Ngược lại, khi bệnh tiến triển đến giai đoạn muộn, tỷ lệ này giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 10% ở giai đoạn IV.
"Điều đó cho thấy sàng lọc và phát hiện sớm có ý nghĩa quyết định trong việc cải thiện tiên lượng cho người bệnh", PGS.TS Đỗ Hùng Kiên nhấn mạnh.
Ung thư phổi không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, chất lượng sống và khả năng lao động của người bệnh mà còn tạo áp lực lớn đối với gia đình và hệ thống chăm sóc y tế. Khi phần lớn trường hợp được phát hiện ở giai đoạn muộn, quá trình điều trị thường phức tạp hơn, chi phí cao hơn và tiên lượng kém hơn.
Các chuyên gia lưu ý, nguy cơ ung thư phổi không chỉ giới hạn ở người hút thuốc. Tại Việt Nam và nhiều nước châu Á, vẫn ghi nhận các trường hợp mắc bệnh ở phụ nữ và người không hút thuốc. Vì vậy, quan niệm cho rằng bản thân không hút thuốc đồng nghĩa với việc không có nguy cơ mắc ung thư phổi có thể khiến nhiều người chủ quan.

PGS.TS.BS Đỗ Hùng Kiên, Phó Giám đốc Bệnh viện K phát biểu. Ảnh: Trần Minh
Những nhóm có nguy cơ cao hơn gồm người trên 50 tuổi, người đang hoặc từng hút thuốc, người thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc thụ động, người mắc bệnh phổi mạn tính như COPD hoặc có tổn thương phổi sau lao, người có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi; người thường xuyên phơi nhiễm với bụi, hóa chất hoặc khí độc trong môi trường sống và làm việc.
Triệu chứng ung thư phổi ở giai đoạn đầu thường không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các bệnh hô hấp thông thường. Ho kéo dài, khó thở, đau ngực, ho ra máu, sụt cân không rõ nguyên nhân hoặc mệt mỏi kéo dài là những dấu hiệu không nên xem nhẹ. Khi xuất hiện triệu chứng bất thường hoặc kéo dài, người dân cần chủ động đi khám để được đánh giá kịp thời.
Về phát hiện sớm, chụp X-quang phổi là phương pháp phổ biến có thể giúp nhận diện một số bất thường và gợi ý người dân đi khám chuyên sâu. Khi có hình ảnh nghi ngờ, người bệnh cần được bác sĩ tư vấn phương pháp đánh giá tiếp theo. Đối với người thuộc nhóm nguy cơ cao, CT liều thấp (LDCT) là phương pháp được khuyến cáo rộng rãi trong sàng lọc ung thư phổi. Việc tầm soát đúng đối tượng, đúng phương pháp và đúng thời điểm có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
COPD: Gánh nặng lớn, nhiều người bệnh chưa được chẩn đoán
Cùng với ung thư phổi, COPD cũng là vấn đề đáng quan tâm trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bệnh tiến triển âm thầm nhưng liên tục làm suy giảm chức năng phổi, ảnh hưởng đến khả năng vận động, sinh hoạt và chất lượng sống của người bệnh.
Tại Việt Nam, hiện có hơn 1,7 triệu người đang sống chung với COPD. Đây là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba, với hơn 25.000 ca tử vong mỗi năm. Chi phí điều trị trực tiếp trung bình khoảng 78,5 triệu đồng mỗi bệnh nhân mỗi năm. Đáng chú ý, cứ 4 giường bệnh tại các khoa hô hấp thì có 1 giường được sử dụng cho bệnh nhân COPD.
Tuy nhiên, khoảng 65-80% người mắc COPD trong cộng đồng chưa được chẩn đoán. Điều này khiến nhiều người bỏ lỡ thời điểm can thiệp sớm, khi tổn thương phổi còn có thể được kiểm soát, hạn chế nguy cơ tiến triển và biến chứng.
Theo PGS.TS Phan Thu Phương, Viện trưởng Viện Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, 57,5% bệnh nhân COPD có tình trạng khó thở từ mức độ trung bình đến rất nặng; 46% bệnh nhân có đợt cấp trong vòng 12 tháng và tỷ lệ tái nhập viện lên tới gần 55%.
Bệnh COPD còn có mối liên quan với các bệnh lý tim mạch. Theo PGS.TS Phan Thu Phương, tỷ lệ người mắc COPD đồng thời bị tăng huyết áp dao động từ 44,9% đến gần 63%; tỷ lệ mắc bệnh mạch vành từ 7,2% đến 26,2%.

PGS.TS Phan Thu Phương, Viện trưởng Viện Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai phát biểu. Ảnh: Trần Minh
Một trong những thách thức trong kiểm soát COPD là các biểu hiện ban đầu thường không rõ ràng, dễ bị nhầm với dấu hiệu tuổi tác hoặc những bệnh hô hấp thông thường. Nhiều người chỉ đi khám khi khó thở tăng lên, khả năng vận động suy giảm hoặc xuất hiện các đợt bệnh nặng. Khi đó, người bệnh có thể đã gặp biến chứng tim phổi, giảm khả năng lao động và sinh hoạt.
Vì vậy, nhận biết sớm dấu hiệu nghi ngờ, chủ động thăm khám để đánh giá chức năng phổi, duy trì điều trị và theo dõi đúng cách có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát bệnh. Phát hiện sớm và quản lý liên tục giúp hạn chế đợt cấp, giảm nguy cơ nhập viện, bảo vệ chức năng tim phổi và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
Tập trung dự phòng, sàng lọc và nâng cao năng lực y tế
Trước gánh nặng bệnh tật ngày càng đáng chú ý, ngày 4/9/2026, Bộ Y tế đã phê duyệt Kế hoạch hoạt động Chương trình Sức khỏe Phổi Việt Nam giai đoạn 2026-2027, tập trung vào ba nhóm bệnh chính là ung thư phổi, COPD và hen phế quản.
Mục tiêu chung của Chương trình là tăng cường tiếp cận y tế toàn diện trong dự phòng, phát hiện, chẩn đoán, quản lý và điều trị các bệnh không lây nhiễm về phổi; góp phần kiểm soát bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các mục tiêu quốc gia về sức khỏe, phát triển bền vững.
Chương trình hướng tới nâng cao nhận thức của người dân và nhân viên y tế về phòng ngừa, kiểm soát bệnh không lây nhiễm về phổi; tăng tỷ lệ phát hiện sớm và đạt mục tiêu điều trị; giảm nhập viện, cơn kịch phát, đợt cấp ở người bệnh hen phế quản và COPD; tăng tỷ lệ ung thư phổi được phát hiện, điều trị ở giai đoạn sớm. Đồng thời, nâng cao năng lực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và nhân viên y tế trong dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh; tăng cường tuân thủ hướng dẫn chuyên môn.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, TS.BS Nguyễn Trọng Khoa phát biểu. Ảnh: Trần Minh
Các hoạt động trọng tâm gồm truyền thông, giáo dục sức khỏe; hoàn thiện chính sách; sàng lọc, phát hiện sớm; xây dựng, cập nhật hướng dẫn chuyên môn; nâng cao năng lực nhân viên y tế; nghiên cứu khoa học và tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, TS.BS Vũ Mạnh Hà, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế nhấn mạnh, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước.
Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị đã xác định yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh; tăng cường chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục; phát huy vai trò của y tế dự phòng, y tế cơ sở và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế. Đây cũng là định hướng quan trọng để ngành Y tế đổi mới phương thức chăm sóc sức khỏe nhân dân trong giai đoạn tới.
Trong bối cảnh đó, các bệnh không lây nhiễm về phổi đang là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Thứ trưởng Thường trực Vũ Mạnh Hà nhấn mạnh: "Những con số về bệnh ung thư phổi, bệnh COPD và hen cho thấy ngành y tế không thể chỉ tập trung điều trị khi bệnh đã tiến triển, mà phải chủ động hơn trong phòng ngừa yếu tố nguy cơ, sàng lọc, phát hiện sớm và quản lý bệnh lâu dài. Đây là yêu cầu cấp thiết, đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn ngành".




Các đại biểu đến từ Viện nghiên cứu ung thư, Cục Phòng bệnh, Viện Chiến lược và Chính sách y tế trao đổi, thảo luận tại Hội nghị. Ảnh: Trần Minh
Ba nhiệm vụ trọng tâm để triển khai Chương trình hiệu quả
Để Chương trình được triển khai thực chất, hiệu quả, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế đề nghị các cơ quan, đơn vị tập trung thực hiện ba nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, chuyển mạnh từ điều trị sang chủ động phòng bệnh và phát hiện sớm. Ngành Y tế cần tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về các yếu tố nguy cơ gây bệnh phổi, chú trọng nhóm nguy cơ cao; từng bước mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ sàng lọc, phát hiện sớm, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thứ hai, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và quản lý liên tục người bệnh. Các đơn vị cần tiếp tục chuẩn hóa, cập nhật hướng dẫn chuyên môn; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ y tế; tăng cường phối hợp giữa các tuyến để bảo đảm người bệnh được phát hiện, điều trị kịp thời và quản lý lâu dài. Với COPD và hen phế quản, cần chú trọng kiểm soát bệnh, giảm đợt cấp, giảm nhập viện; với ung thư phổi, cần nâng cao tỷ lệ phát hiện ở giai đoạn sớm, cải thiện hiệu quả điều trị.
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Việc ứng dụng công nghệ cần được tăng cường trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh phổi; thúc đẩy tích hợp hướng dẫn chuyên môn vào bệnh án điện tử, xây dựng, kết nối và khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình.

Điểm cầu trực tuyến tham dự Hội nghị. Ảnh: Trần Minh
Để triển khai các nhiệm vụ trên, Thứ trưởng Thường trực Vũ Mạnh Hà yêu cầu các đơn vị được giao nhiệm vụ xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và sản phẩm đầu ra; tăng cường phối hợp liên ngành, liên tuyến, bảo đảm hoạt động đồng bộ, tránh hình thức và chồng chéo.
Trong đó, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh với vai trò đầu mối điều phối cần chủ động theo dõi, đôn đốc, giám sát và đánh giá việc thực hiện Kế hoạch; phối hợp chặt chẽ với Cục Phòng bệnh và các đơn vị liên quan, kịp thời tham mưu lãnh đạo Bộ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Các Sở Y tế cần chủ động tham mưu UBND tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình địa phương. Các bệnh viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần nâng cao chất lượng chuyên môn, tăng cường kết nối với y tế cơ sở, bảo đảm tính liên tục trong quản lý và chăm sóc người bệnh.
Các hội chuyên ngành, trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức, đối tác trong và ngoài nước tiếp tục đồng hành, hỗ trợ chuyên môn, đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật, góp phần nâng cao hiệu quả Chương trình.
Việc triển khai Chương trình thể hiện quyết tâm của ngành Y tế trong chuyển các mục tiêu, nhiệm vụ thành kết quả cụ thể, giúp người dân tiếp cận dịch vụ dự phòng, phát hiện sớm và điều trị bệnh phổi kịp thời, chất lượng, công bằng hơn; qua đó góp phần giảm gánh nặng bệnh tật và nâng cao sức khỏe nhân dân.
