PV Báo Sức khỏe & Đời sống đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. BS Trần Hải Yến, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Mắt TPHCM, người sáng lập Trung tâm Mắt Hải Yến (Hai Yen Eye Care) xung quanh vấn đề này.

PGS.TS. BS Trần Hải Yến
Gần 50% dân số thế giới – sẽ bị cận thị
-Thưa bác sĩ hiện nay tình trạng cận thị ở trẻ em, đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, đang diễn biến như thế nào? Độ tuổi nào cận thị tăng nhanh nhất?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Cận thị ở trẻ em đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm, đặc biệt tại các nước Đông Á và Đông Nam Á. Điều đáng lo không chỉ là ngày càng nhiều trẻ bị cận, mà còn là trẻ bắt đầu cận ở độ tuổi ngày càng sớm. Cận càng sớm thì thời gian để mắt tiếp tục phát triển và tăng độ càng dài, do đó nguy cơ trở thành cận thị nặng khi trưởng thành càng cao.
Một nghiên cứu quy mô toàn cầu của Brien Holden Vision Institute năm 2016 dự báo rằng đến năm 2050, khoảng 4,8 tỷ người – tức gần 50% dân số thế giới – sẽ bị cận thị; trong đó gần 1 tỷ người, tương đương khoảng 10% dân số, sẽ bị cận thị cao. Đây là lý do cận thị ngày nay không còn được xem đơn thuần là một tật khúc xạ mà đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu.
Cận thị thường tiến triển nhanh nhất trong những năm đầu sau khi khởi phát, đặc biệt ở lứa tuổi tiểu học và đầu trung học cơ sở. Các nghiên cứu lớn cho thấy nhóm khoảng 7–12 tuổi có tốc độ tiến triển cao nhất. Tuy nhiên, mỗi trẻ có một tốc độ khác nhau, phụ thuộc vào tuổi khởi phát, yếu tố gia đình, thời gian học và nhìn gần, hoạt động ngoài trời cũng như đặc điểm phát triển của mắt.
Vì vậy, hiện nay chúng tôi không chỉ quan tâm trẻ "cận bao nhiêu độ", mà còn theo dõi tốc độ tăng độ và đặc biệt là tốc độ dài ra của trục nhãn cầu. Đây là những thông số quan trọng để đánh giá nguy cơ và quyết định có cần can thiệp kiểm soát cận thị hay không.

Trẻ em tại TPHCM đang được khám mắt. Ảnh H.Y
- Hiện Trung tâm Mắt Hải Yến đang áp dụng những phương pháp hoặc loại kính nào để kiểm soát tiến triển cận thị ở trẻ em?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Tại Trung tâm Mắt Hải Yến, chúng tôi tiếp cận theo hướng quản lý cận thị toàn diện và cá thể hóa, nghĩa là không phải trẻ nào cũng áp dụng cùng một phương pháp.
Các lựa chọn hiện nay bao gồm kính gọng chuyên biệt kiểm soát cận thị với các công nghệ tạo tín hiệu quang học kiểm soát sự phát triển của mắt như DIMS, HAL/HALT và các thiết kế tương tự; kính tiếp xúc chỉnh hình giác mạc ban đêm Ortho-K; và Atropine nồng độ thấp trong những trường hợp có chỉ định.
Bên cạnh đó, điều chỉnh hành vi vẫn là một phần không thể thiếu: tăng thời gian hoạt động ngoài trời, quản lý thời gian và khoảng cách nhìn gần, điều kiện chiếu sáng và thói quen sử dụng thiết bị điện tử.
Điều quan trọng là phải lựa chọn phương pháp dựa trên tuổi, độ cận, tốc độ tăng độ, chiều dài trục nhãn cầu, đặc điểm giác mạc, lối sống và khả năng tuân thủ của từng trẻ.
Làm cho trẻ tăng độ cận chậm nhất
- Bác sĩ có thể giải thích đơn giản cơ chế hoạt động của những loại kính này? Điểm khác biệt giữa kính kiểm soát cận thị và kính cận thông thường là gì?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Kính cận thông thường có nhiệm vụ chính là giúp trẻ nhìn rõ. Nó đưa hình ảnh về đúng võng mạc nhưng về cơ bản không được thiết kế để tác động lên quá trình mắt tiếp tục dài ra.
Kính kiểm soát cận thị thì có hai nhiệm vụ cùng lúc: vùng quang học chính giúp trẻ nhìn rõ, còn những vùng quang học đặc biệt xung quanh tạo ra tín hiệu quang học – thường gọi một cách đơn giản là myopic defocus – nhằm làm giảm kích thích khiến nhãn cầu tiếp tục dài ra.
Có thể hình dung đơn giản: kính thông thường chủ yếu "sửa cái nhìn mờ", còn kính kiểm soát cận thị vừa giúp trẻ nhìn rõ, vừa tạo hiệu ứng quang học để tác động lên quá trình phát triển của mắt để làm chậm cận thị.
Và đây chính là điểm mấu chốt: chúng ta làm cho độ kính tăng chậm hơn bằng cách kiểm soát tốc độ dài ra của trục nhãn cầu.
- Với một trẻ đang trong độ tuổi phát triển, nếu sử dụng đúng loại kính kiểm soát cận thị thì khả năng tăng độ có thể giảm đến mức nào?
Không có một con số duy nhất áp dụng cho tất cả trẻ, vì hiệu quả phụ thuộc vào công nghệ, tuổi bắt đầu điều trị, mức độ nguy cơ và đặc biệt là mức độ tuân thủ.
Với các thế hệ kính kiểm soát cận thị mới, những thử nghiệm lâm sàng tốt cho thấy có thể làm giảm tiến triển cận thị và giảm sự kéo dài trục nhãn cầu khoảng 40–60%, một số nghiên cứu cho kết quả cao hơn, so với kính cận thông thường.
Tôi thường giải thích với phụ huynh rằng mục tiêu thực tế không phải là "đeo kính để không tăng độ", mà là làm cho trẻ tăng chậm nhất có thể trong những năm mắt còn phát triển. Nếu thay vì tăng 0,75–1,00 độ mỗi năm mà chúng ta có thể giảm đáng kể tốc độ đó trong nhiều năm liên tục thì lợi ích tích lũy đến khi trẻ trưởng thành là rất lớn.

Trẻ em tại TPHCM đang được khám mắt. Ảnh H.Y
"Kính giảm độ cận" dễ gây hiểu nhầm
- Nhiều phụ huynh giới thiệu với nhau "đeo kính giảm độ cận vào gần như không tăng độ cận". Điều này có đúng không thưa bác sĩ?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Tôi nghĩ cách gọi "kính giảm độ cận" dễ gây hiểu nhầm. Kính kiểm soát cận thị không làm mất số cận đã có và cũng không thể bảo đảm trẻ sẽ không tăng độ.
Đúng là có những trẻ đáp ứng rất tốt, trong một khoảng thời gian độ cận gần như ổn định. Nhưng cũng có trẻ vẫn tiếp tục tăng độ dù đã sử dụng kính kiểm soát cận thị. Điều chúng ta cần đánh giá là trẻ tăng chậm hơn bao nhiêu so với diễn tiến dự kiến nếu không điều trị.
Vì vậy, phụ huynh không nên chỉ dựa vào việc "năm nay tăng mấy độ". Chúng tôi theo dõi đồng thời khúc xạ và chiều dài trục nhãn cầu, thường theo chu kỳ 3–6 tháng tùy nguy cơ, để biết phương pháp đang sử dụng có thực sự hiệu quả hay không và có cần điều chỉnh chiến lược hay không.
- Những loại kính mà Trung tâm đang sử dụng đã có những nghiên cứu khoa học nào chứng minh hiệu quả kiểm soát cận thị?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Các công nghệ kính kiểm soát cận thị hiện đại như DIMS và HAL/HALT đã được đánh giá bằng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng và được theo dõi trong nhiều năm.
Với DIMS, nghiên cứu ngẫu nhiên ban đầu cho thấy sau 2 năm, trẻ sử dụng kính có mức tăng cận ít hơn khoảng 0,44 diop và trục nhãn cầu dài ra ít hơn khoảng 0,34 mm so với kính đơn tròng thông thường. Các nghiên cứu theo dõi kéo dài đến 6 năm cho thấy hiệu quả kiểm soát vẫn được duy trì.
Với công nghệ HAL – các vi thấu kính phi cầu có độ phi cầu cao – nghiên cứu ngẫu nhiên 2 năm cho thấy giảm tiến triển cận khoảng 0,80 diop và giảm kéo dài trục nhãn cầu khoảng 0,35 mm so với kính thông thường. Dữ liệu theo dõi 5 năm tiếp tục cho thấy hiệu quả kiểm soát được duy trì.
Đặc biệt, báo cáo cập nhật năm 2025 của International Myopia Institute – IMI đã tổng hợp nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên về các loại kính kiểm soát cận thị thế hệ mới. Vì vậy, đây không còn là câu chuyện quảng cáo một sản phẩm kính, mà đã trở thành một lĩnh vực điều trị dựa trên bằng chứng khoa học.
- Gần đây Trung tâm Mắt Hải Yến có chương trình cho trẻ em sử dụng kính kiểm soát cận thị miễn phí để tham gia nghiên cứu. Bác sĩ có thể thông tin thêm về nghiên cứu này?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Chương trình này được áp dụng cho những trẻ tham gia vào nghiên cứu liên quan đến khảo sát và xây dựng dữ liệu trên chính trẻ em Việt Nam, bởi hiệu quả kiểm soát cận thị có thể chịu ảnh hưởng của tuổi, di truyền, môi trường học tập, thời gian hoạt động ngoài trời và nhiều yếu tố khác.
Chỉ những trẻ đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đề ra mới được cung cấp kính kiểm soát cận thị và theo dõi định kỳ miễn phí nhưng phải tuân thủ quy trình chuẩn. Chúng tôi không chỉ đo độ cận mà còn theo dõi chiều dài trục nhãn cầu và các thông số liên quan đến sự phát triển của mắt.
Mục tiêu không chỉ là xem trẻ "tăng bao nhiêu độ", mà quan trọng hơn là đánh giá tốc độ phát triển của nhãn cầu, mức độ đáp ứng với kính và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát cận thị ở trẻ em Việt Nam.
Đây cũng là cách để chúng ta từng bước chuyển từ việc áp dụng kết quả nghiên cứu của các quốc gia khác sang xây dựng dữ liệu thực tế của trẻ em Việt Nam.
Chương trình ngưng khi đã nhận đủ cỡ mẫu (số trẻ) theo đề cương nghiên cứu đã được duyệt. Những trẻ không trong chương trình vẫn được kiểm soát cận thị thu phí như thường lệ.
Kính kiểm soát cận thị không phải là "tấm vé miễn trừ"
- Nếu trẻ đeo kính kiểm soát cận thị nhưng vẫn sử dụng điện thoại, máy tính nhiều giờ, ít ra ngoài trời thì hiệu quả có bị ảnh hưởng không? Những sai lầm phổ biến nhất của cha mẹ khi chăm sóc mắt cho trẻ cận thị là gì? Theo bác sĩ, 5–10 năm tới, cận thị trẻ em có thể trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đến mức nào?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Kính kiểm soát cận thị không phải là "tấm vé miễn trừ" cho các thói quen thị giác không tốt. Một chương trình kiểm soát cận thị đúng phải kết hợp giữa phương pháp điều trị và thay đổi môi trường, hành vi.
Trẻ vẫn cần hạn chế nhìn gần kéo dài liên tục, giữ khoảng cách đọc hợp lý, có ánh sáng tốt và đặc biệt là tăng thời gian hoạt động ngoài trời. Hoạt động ngoài trời đã được chứng minh có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong việc giảm nguy cơ khởi phát cận thị.
Một số sai lầm tôi thường gặp ở phụ huynh là chỉ quan tâm "bao nhiêu độ" mà không theo dõi trục nhãn cầu; chờ trẻ tăng độ nhiều mới can thiệp; nghĩ rằng đeo kính thường xuyên sẽ làm mắt "phụ thuộc kính"; cố tình cho trẻ đeo kính thiếu độ; hoặc tin rằng chỉ cần mua một loại kính kiểm soát cận thị là đủ mà không cần theo dõi định kỳ.
Trong 5–10 năm tới, tôi cho rằng cận thị trẻ em sẽ ngày càng trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng. Theo dự báo của trong nghiên cứu của Brien Holden Vision Institute, đến năm 2050, cứ hai người trên thế giới có thể có một người bị cận thị, và cứ khoảng mười người có một người bị cận thị cao.
Điều đáng lo không phải chỉ là sẽ có rất nhiều người phải đeo kính. Vấn đề thực sự là hàng trăm triệu trẻ em cận thị hôm nay sẽ trở thành những người trưởng thành cận thị cao trong tương lai, với nguy cơ cao hơn mắc thoái hóa hoàng điểm do cận thị, bong võng mạc, glaucoma và các biến chứng có thể gây mất thị lực.
Vì vậy, chiến lược hiện nay cần thay đổi từ "trẻ cận thì cho đeo kính để nhìn rõ" sang "phát hiện sớm và kiểm soát cận thị để bảo vệ sức khỏe mắt lâu dài".
- "Nếu không can thiệp kiểm soát cận thị, trẻ cận sớm và tăng độ nhanh có nguy cơ gì khi trưởng thành?". Có phải trẻ em nào bị cận thị cũng đeo được "kính chống cận"?
PGS.TS. BS Trần Hải Yến: Cận thị không chỉ là một tật khúc xạ. Khi cận thị tiến triển, đặc biệt là cận thị cao, nhãn cầu thường dài ra. Sự kéo dài quá mức này làm thay đổi cấu trúc của võng mạc, hắc mạc và các mô khác của mắt.
Khi trưởng thành, người cận thị cao có nguy cơ cao hơn mắc thoái hóa hoàng điểm do cận thị, bong võng mạc, glaucoma và một số biến chứng khác có thể gây giảm thị lực không hồi phục. Vì vậy, mỗi một độ cận mà chúng ta có thể ngăn trẻ không tăng thêm hôm nay đều có ý nghĩa đối với sức khỏe mắt của trẻ trong nhiều thập niên sau.
Không phải trẻ cận thị nào cũng có thể đơn giản mua một cặp "kính chống cận" và đeo giống nhau. Trước tiên cần xác định trẻ có thực sự cận hay không, mức độ cận, tuổi khởi phát, tốc độ tiến triển, chiều dài trục nhãn cầu và các yếu tố nguy cơ.
Sau đó mới lựa chọn phương pháp phù hợp. Có trẻ phù hợp với kính gọng kiểm soát cận thị, có trẻ phù hợp với Ortho-K, kính tiếp xúc mềm hoặc Atropine; và cũng có những trường hợp cần phối hợp nhiều phương pháp.
Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh với phụ huynh là: phát hiện sớm – đánh giá đúng nguy cơ – can thiệp sớm – và theo dõi lâu dài. Mục tiêu của kiểm soát cận thị không phải chỉ để trẻ hôm nay nhìn rõ, mà là giúp đôi mắt của trẻ an toàn hơn khi bước vào tuổi trưởng thành.
-Xin cảm ơn bác sĩ.
Thùy Dương