Tranh Tết – còn hay mất?

Văn hóa – Giải trí
Các cụ ta có câu “Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc” - đó là bốn thú chơi tao nhã của người Việt xưa. Trước đây, cứ mỗi độ xuân về, tranh Tết lại xuất hiện như thể để làm cho không khí đón chờ năm mới thêm náo nức, tưng bừng.

Các cụ ta có câu “Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc” - đó là bốn thú chơi tao nhã của người Việt xưa. Trước đây, cứ mỗi độ xuân về, tranh Tết lại xuất hiện như thể để làm cho không khí đón chờ năm mới thêm náo nức, tưng bừng. Hiện nay thú chơi tranh của người dân thay đổi, tranh Tết cũng trải qua bao thăng trầm.

Nhớ thời hưng thịnh xa xưa…

Theo các tài liệu còn ghi chép lại, trên cả nước, có nhiều làng làm tranh truyền thống, nhiều dòng tranh dân gian khác nhau, nhưng lâu đời và nổi tiếng hơn cả vẫn là tranh Đông Hồ (Hà Bắc cũ), tranh Hàng Trống (Hà Nội), tranh Kim Hoàng (Hà Tây), tranh Nam Hoành (Nghệ An), tranh làng Sình (Huế).

Thời điểm chợ tranh hoạt động nhộn nhịp nhất là vào các phiên tháng Chạp. Khi ấy, đi khắp các nẻo chợ quê miền Bắc hay các dãy phố cổ Hà Nội, đâu đâu cũng thấy bày bán tranh. Tranh rải trên chiếu, tranh bày trong mẹt, tranh căng trên dây, tranh treo trên cọc, rồi còn tranh cuộn tròn, xếp gọn từng tệp trong bồ. Người đi sắm Tết thường không bao giờ bỏ qua mẹt hàng tranh, chiếu hàng tranh. Chỉ cần vài xu lẻ đã mua được một bức Tiến tài, Tiến lộc, Phú quý, Vinh hoa, thêm vài xu nữa là được cả bộ Tứ quý, Tứ bình, Tứ dân... về dán cửa, dán vách, dán cột đón xuân.

Tranh Tết – còn hay mất? 1
Bày bán tranh Tết  trên phố Hàng Trống thuở xưa.

Tranh Tết, dù là Đông Hồ hay Hàng Trống, Kim Hoàng đều rất đa dạng về đề tài, mẫu mã nhưng có một điểm chung là đều mang ý nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng, mong chờ ở một năm mới sắp đến. Vì thế, khi mỗi bức tranh Tết của năm cũ được gỡ xuống, tranh mới được treo lên là nhằm hàm ý “Tống cựu, nghinh tân”, hy vọng đón bình an, vinh hoa, phú quý về nhà. Dù cùng mang những ý nghĩa tốt đẹp như nhau, song mỗi dòng tranh lại có nét độc đáo riêng nên các đối tượng khách mua cũng khác nhau. Tranh Đông Hồ chân chất, mộc mạc, hợp với tầng lớp bình dân; tranh Hàng Trống có gam màu tự nhiên, nhẹ nhàng, sang trọng hơn, bản tranh to hơn nên rất được giới trí thức, tầng lớp thượng lưu và người Tràng An thanh lịch ưa thích...

Trải qua hàng trăm năm gắn bó với đời sống, với những cái Tết của người Việt, thú chơi tranh Tết thực sự đã trở thành một phần hồn Việt trong lành, nhân hậu và đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị tinh thần và tâm linh sâu sắc.

Bây giờ tan tác về đâu?

Cho đến ba, bốn chục năm trước đây, thú chơi tranh Tết vẫn còn phổ biến. Tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh chữ Nho, câu đối Tết vẫn còn rực rỡ khắp các chợ Tết, chợ hoa, hiệu sách, cửa hàng từ thành phố tới thôn quê. Ấy vậy mà thời cuộc xoay vần, cuộc sống dần hiện đại hơn, thú chơi, cách chơi của người dân cũng dần thay đổi, tranh Tết dân gian bỗng dưng mất dạng. Thay vào đó, các tranh in sẵn của Trung Quốc tràn ngập trên thị trường. Những bức tranh Tiến tài, Tiến lộc, Vinh hoa, Phú quý dung dị bằng giấy dó lúc trước giờ được thay bằng tranh em bé ôm những thỏi vàng khổng lồ được dán trước cổng nhà hay cửa hiệu, rồi tranh cá, tranh rồng chế tác bằng vi tính được treo và dán khắp nơi.

Cả làng Đông Hồ giờ đây chỉ còn hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam là còn lưu giữ nghề tranh. Tất cả những gia đình khác đều đã chuyển sang nghề làm vàng mã được ưa dùng hơn, kiếm được nhiều tiền hơn. Tranh Hàng Trống còn bi đát thậm tệ, không những thị trường quay mặt mà người làng tranh cũng quên hẳn cái nghề cha ông từng theo đuổi hàng trăm năm về trước. Nhiều người dân sống ở phố Hàng Trống thậm chí không hề biết rằng nơi đây đã từng có một dòng tranh dân gian nổi tiếng. Người biết làm tranh hiện cũng chỉ còn lại duy nhất nghệ nhân Lê Đình Nghiên nay đã ngoài 60 tuổi. Ông Nghiên tâm sự: “Đến bây giờ tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng về sự biến mất nhanh chóng của cả một dòng tranh dân gian nổi tiếng một thời. Giờ người ta chỉ còn thấy nó trong những viện bảo tàng”.

Vài tín hiệu vui

Một hai năm trở lại đây, khi đời sống đã khấm khá hơn, dân trí được nâng cao và cùng với xu hướng của thời đại là tìm về cội nguồn, tôn vinh bản sắc dân tộc thì dường như cái thú chơi chữ, chơi tranh Tết bắt đầu có dấu hiệu quay trở lại. Các mẫu tranh dân gian như Tứ quý, Tứ bình, Tứ linh, Lý ngư vọng nguyệt, Thất đồng, Hứng dừa... đã được các làng nghề truyền thống chuyển thể sang các chất liệu khác như: gỗ, đồng, sơn mài, khảm trai..., thu hút nhiều khách hàng hơn. Đối với một số người sành chơi, bây giờ, những món ăn quê, bức tranh quê mới là đặc sản. Một số nhà buôn tranh ở Hà Nội cho biết, đã có nhiều khách hàng tìm đến hỏi mua tranh chữ, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống. Ban đầu, chủ yếu là khách nước ngoài hay khách Việt kiều về quê ăn Tết. Nhưng dần dà có thêm một số khách trong nước tìm mua để mừng tân gia hoặc làm quà Tết. Tuy nhiên, do nhu cầu khách hàng nhỏ lẻ nên ít người buôn bán loại tranh này. Khách muốn mua tranh thường được giới thiệu về tận Đông Hồ, đến tận nhà nghệ nhân để mua. Theo chị Mai Thị Thanh Huyền - con dâu nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, do giá rẻ hơn tranh Hàng Trống nên tranh Đông Hồ vẫn túc tắc bán được tháng dăm chục, vài trăm bức. Khách đến mua tranh thường chọn mua theo bộ sưu tập, thích tranh lồng vào khung kính trang trọng hoặc đóng khung tre, cuốn trục gỗ tiện. Đây cũng là một cách thức mới để tranh dân gian tìm đến với sự hòa hợp giữa cái truyền thống và khung cảnh của một phòng khách hiện đại.

Tranh Tết – còn hay mất? 2
Ông Lê Đình Nghiên - Nghệ nhân cuối cùng bên tranh Hàng Trống.

Ở các chợ quê, tranh dân gian cũng bắt đầu xuất hiện trở lại. Năm nay, người dân đã bắt đầu quay trở lại chọn mua tranh Đông Hồ về treo cho ấm cúng.

Để giữ nghề, ông Nghiên, ông Chế, ông Sam đang cố công truyền thụ nghề cho con cái trong nhà và tìm cách khôi phục sức sống cho tranh của làng mình. Gia đình ông Chế đã mở một cửa hàng trưng bày giới thiệu tranh ở số nhà 16 Chân Cầm, Hoàn Kiếm, Hà Nội và đưa tranh lên mạng internet để quảng bá với khách hàng gần xa. Ngay trong làng Đông Hồ, được sự ủng hộ của chính quyền, gia đình ông Chế đã thành lập “Trung tâm lưu giữ, bảo tồn dòng tranh dân gian Đông Hồ”. Còn ông Nghiên vẫn hàng ngày cần mẫn phục vụ số khách hàng quen ít ỏi nhưng thực sự yêu thích tranh Hàng Trống ngay tại căn nhà nhỏ của mình. Tiền thu được tuy không nhiều, không thể đem lại một cuộc sống ổn định cho gia đình, nhưng đủ khiến ông thêm vững lòng với việc gìn giữ nghề tổ, ông bảo: “Chừng nào còn một khách mua thì chừng đó tranh Hàng Trống vẫn sống...”.

Liên Nhi




Ý kiến của bạn