Trận chiến trên hồ sơ kinh tế

Quốc tế
Sau Đại hội toàn quốc của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, hai ứng cử viên Tổng thống Mỹ lập tức lên đường chinh phục cử tri với cùng một mục đích: thể hiện sự khác biệt về chính sách kinh tế để đem lại công ăn việc làm cho người dân.

(SKDS) - Sau Đại hội toàn quốc của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, hai ứng cử viên Tổng thống Mỹ lập tức lên đường chinh phục cử tri với cùng một mục đích: thể hiện sự khác biệt về chính sách kinh tế để đem lại công ăn việc làm cho người dân.

Vào lúc hai ông Barack Obama, Mitt Romney ráo riết thuyết phục cử tri về khả năng vực dậy kinh tế cho Hoa Kỳ, tạp chí chuyên đề The Economist của Anh số cuối tháng 8/2012 đặt câu hỏi với 1.700 chủ doanh nghiệp của thế giới: Barack Obama hay Mitt Romney có hy vọng cải thiện tình hình kinh tế toàn cầu? Theo cuộc thăm dò dư luận đặc biệt đó có tới 42% những người được hỏi cho rằng kinh tế thế giới sáng sủa hơn nếu như Tổng thống Obama tái đắc cử. Ông Romney chỉ được 21% tín nhiệm.

Ngược lại, trong mắt các doanh nhân Mỹ thì uy tín của ứng cử viên đảng Cộng hòa lại cao hơn: gần 40% các doanh nhân Mỹ tin tưởng vào tài cầm lái của ông Mitt Romney (31% cho ông Obama). Nói cách khác, giới này cho rằng ứng cử viên đảng Cộng hòa sẽ bảo vệ quyền lợi của họ tốt hơn.

 Obama, Romney ráo riết thuyết phục cử tri về khả năng vực dậy kinh tế.

Dù vậy, đối với đại đa số người dân Mỹ thì các cuộc thăm dò dư luận được công bố sau khi Đại hội đảng Dân chủ kết thúc cho thấy, cách biệt về ý định bỏ phiếu đang nghiêng về phía ông Obama. Đại diện của đảng Dân chủ bỏ xa đối thủ của đảng Cộng hòa là Mitt Romney 5 điểm.

Căn cứ vào nghiên cứu do Viện Rasmussen thực hiện được công bố ngày 10/9/2012, theo thứ tự, ông Obama và Romney được 50 và 45% cử tri ủng hộ. Thăm dò của Viện Gallup cũng đưa ra chênh lệch là 5 điểm. Còn theo thăm dò của CNN–Opinion Research thì khác biệt giữa hai ông Romney và Obama là 6 điểm. Phần thắng vẫn nghiêng về phía tổng thống mãn nhiệm.

Các nhà bình luận ở Mỹ cho rằng, điểm tín nhiệm của ông Barack Obama tăng lên sau Đại hội toàn quốc ở Charlotte, bang Bắc Carolina tuần qua do ứng cử viên đảng Dân chủ đã tỏ ra rất thực tế trong bài diễn văn của ông. Ông Obama không ngần ngại nhìn nhận thực tế phũ phàng: hơn 8% người dân Mỹ không có việc làm. Tỷ lệ này cao hơn 3% so với thời điểm 2009 khi ông bước vào Nhà Trắng.
 
Lên cầm quyền vào đỉnh điểm của cơn khủng hoảng tài chính và kinh tế 2007-2009, Tổng thống Barack Obama cam kết đem lại công ăn việc làm cho người dân ngay trong năm đầu nhiệm kỳ. Thậm chí có lúc tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ nhảy vọt lên đến 10% (tháng 10/2009), nhưng thực tế cho thấy trong 43 tháng liên tiếp, tỷ lệ thất nghiệp vẫn không giảm xuống dưới mức 8% và để giải quyết việc làm cho người dân thì mỗi tháng nền kinh tế Hoa Kỳ phải tạo thêm được 125.000 việc làm.

Trên toàn quốc, trong tháng 8/2012, kinh tế Mỹ tạo thêm 96.000 chỗ làm, thấp hơn nhiều so với con số 125.000 như mong đợi. Điểm son duy nhất là tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong tháng 8 thấp hơn so với hồi tháng 7/2012 (8,1% thay vì 8,3%). Các con số về thất nghiệp kể trên là cơ hội để đảng Cộng hòa tấn công vào chính sách kinh tế của chính quyền Obama.

Ứng cử viên Mitt Romney nhấn mạnh: “Đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy Barack Obama không giữ lời hứa với cử tri và chính sách kinh tế của ông ta thất bại hoàn toàn”. Trên con đường chinh phục Nhà Trắng, ứng cử viên Romney và đảng Cộng hòa khai thác hai nhược điểm kinh tế của ông Obama: tăng trưởng yếu kém của kinh tế Hoa Kỳ và tình trạng nợ nần chồng chất của Mỹ. Trong 4 năm cầm quyền dưới thời Tổng thống Barack Obama, nợ công của Hoa Kỳ tăng thêm 6.000 tỷ usd để đạt tới ngưỡng 16.000 tỷ, tức tương đương với 100% tổng sản phẩm nội địa của siêu cường kinh tế số 1 thế giới.

Hồ sơ kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của cử tri và cả hai ứng cử viên tổng thống đều hiểu được rằng đây sẽ là một trong những chiếc chìa khóa của thành công trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm nay.   
 

Mỹ sản xuất ra một năm khoảng 16 ngàn tỷ usd, bị bội chi ngân sách gần 1.600 tỷ. Kết quả là gánh nặng công trái đã vượt tổng sản lượng quốc gia 16 ngàn tỷ, trong đó có 5 ngàn tỷ là món nợ của 4 năm qua do các biện pháp tăng chi để kích cầu mà không hiệu quả. Như vậy, bài toán trước mắt là phải tăng thu và giảm chi.

Hồ sơ thứ hai là Quỹ An sinh xã hội trong đó có tiền hưu bổng và trợ cấp người nghèo cũng bị đe dọa. Trong dài hạn thì vì tỷ trọng người cao tuổi lĩnh lương hưu sẽ tăng mạnh so với người đi làm và góp tiền vào quỹ này. Trong ngắn hạn thì thành phần nghèo khổ cần trợ giúp đã tăng đến mức kỷ lục do sự suy thoái kinh tế năm 2008-2009 và phục hồi rất chậm trong 3 năm kế tiếp.

Hồ sơ thứ ba là Quỹ Bảo hiểm y tế Medicare còn bị hao hụt nặng hơn nữa vì thành phần người cao tuổi ngày càng đông nhờ tuổi thọ kéo dài cũng lại là đối tượng cần nhiều chi phí về y tế vốn dĩ đã tăng quá mạnh và vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước.

 Trong hoàn cảnh ấy, người ta khó đẩy lui nạn thất nghiệp, vốn dĩ xảy ra vì sự thay đổi lâu dài về dân số và cơ cấu sản xuất mà càng trầm trọng vì đình trệ kinh tế.

 
 
Hương Linh (Theo Le Figaro, Gallup)

Ý kiến của bạn