Mùa đông giá rét có thể gây tổn thương do lạnh ở các mức độ khác nhau. Đối với người phải lao động hay hoạt động ngoài trời rét, thậm chí phải dầm chân tay hay một phần cơ thể trong nước lạnh có thể bị cước, tê cóng và hội chứng dầm nước. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc phát hiện và chữa trị các tổn thương hay gặp này.
Cước
Cước là các tổn thương ở tay, chân do nhiễm lạnh mà các mô không thực sự đông lạnh làm cho da đỏ, ngứa. Cước có thể liên quan với phù hoặc bọng nước và nặng lên do sưởi ấm. Nếu tiếp tục bị nhiễm lạnh sẽ xảy ra các tổn thương loét hoặc xuất huyết và tiến triển thành sẹo, xơ hoặc teo. Ban đỏ lupus do cước, có thể phân biệt khi kết hợp với các biểu hiện lupus khác hay khi sinh thiết.
Tổn thương cước bàn chân làm cho da đỏ ngứa. |
Khi bị cước cần tiến hành điều trị như sau: để cao chi bị cước lên một chút và sưởi ấm từ từ. Không gãi gây trầy xước hoặc xoa bóp, không chườm nước ấm vùng bị cước. Băng bảo vệ vùng bị cước tránh chấn thương và nhiễm khuẩn thứ phát. Nên dùng prazosin để điều trị và ngăn ngừa tái phát.
Tê cóng
Tê cóng là tổn thương phần mềm do lạnh. Trường hợp nhẹ chỉ có da và các mô dưới da bị tổn thương, bệnh nhân thấy triệu chứng: tê, cắn rứt da và ngứa. Nếu nặng hơn tê cóng vào các cấu trúc ở sâu hơn và có thể có dị cảm và tê cứng. Khi tan giá gây nhạy cảm đau và đau rát ở nơi tổn thương. Da trắng nhợt hay vàng, mất đàn hồi và trở thành bất động. Ở một số người thấy phù, rộp, hoại tử. Chụp mạch cộng hưởng từ hoặc chụp nhấp nháy để đánh giá mức độ tổn thương trong chứng tê cóng nặng và phân biệt mô sống được và mô không sống được.
Khi bị tê cóng các chi ở ngoài trời có thể điều trị bằng cách dùng bàn tay ấm ép mạnh và lâu (không chà xát), hoặc đặt các ngón tay vào nách; các ngón chân và gót chân thì cởi giầy, tất, lau khô chân, làm ấm lại và phủ lên bằng bít tất khô hay quấn bọc bằng khăn, quần áo. Nếu làm tan giá nhanh ở nhiệt độ hơi cao hơn thân nhiệt có thể làm giảm đáng kể sự hoại tử mô. Cách làm ấm tốt nhất là ngâm vùng lạnh cóng trong nước ấm 40 - 42oC trong một thời gian cho đến khi đầu chi cóng đỏ lên. Không nên sấy khô bằng lò hay hơ lửa vì rất khó điều chỉnh độ nóng. Sau khi đã tan giá và vùng tê cóng đã trở lại nhiệt độ bình thường (thường là khoảng 30 phút) thì ngừng sưởi ấm ngoài.
Bảo vệ vùng tê cóng tránh ép hoặc chà xát. Để bệnh nhân nằm nghỉ, nâng cao bộ phận bị tê cóng và để hở ở nhiệt độ phòng.
![]() |
Hội chứng dầm nước
Thường là bàn chân hay bàn tay dầm lâu trong nước lạnh hoặc bùn. Bộ phận tổn thương trước hết bị lạnh và mất cảm giác (giai đoạn tiền sung huyết). Sau đó vùng tổn thương nóng với cảm giác đau, rát bỏng, hay như bị đâm trong giai đoạn sung huyết. Giai đoạn co mạch (giai đoạn hậu sung huyết) chuyển sang nhợt nhạt hay tím tái, vùng tổn thương rộp sưng, đỏ, nóng, bầm máu, chảy máu, hoại tử, tổn thương thần kinh ngoại vi, hoại thư và các biến chứng thứ phát như viêm hạch bạch huyết, viêm mô tế bào và viêm tĩnh mạch huyết khối.
Vùng bị nhiễm lạnh sẽ gây co mạch tại chỗ tức thì, sau đó co mạch lan ra toàn thân. Khi nhiệt độ da giảm xuống tới 25oC thì chuyển hóa mô chậm lại, da trở nên xanh tím. Ở 15oC, sự chuyển hóa mô giảm rõ rệt và sự tách của oxyhemoglobin cũng giảm, gây ra hồng hào giả có vẻ như da được cung cấp đủ ôxy. Ở nhiệt độ này, mô bị hủy hoại do thiếu máu cục bộ và huyết khối ở các mạch máu nhỏ hoặc đông lạnh thực sự. Tê cóng không xảy ra nếu nhiệt độ chưa xuống tới -4 đến -10oC thậm chí thấp hơn, tùy thuộc các yếu tố như gió, sự hoạt động, tĩnh mạch ngưng trệ, thiếu dinh dưỡng và bệnh nghẽn động mạch. Di chứng thần kinh như đau, tê, cảm giác kiến bò, tăng tiết mồ hôi, sự nhạy cảm lạnh của chân tay, bất thường về dẫn truyền thần kinh có thể còn kéo dài nhiều năm sau tổn thương do lạnh.
Điều trị: Làm ấm dần dần bằng cách tiếp xúc không khí ở nhiệt độ phòng, không xoa bóp và bôi ẩm da hay dầm chi tổn thương vào nước. Nâng cao chi tổn thương để giúp rút bớt dịch phù nề. Dùng gối hay đệm bảo vệ các điểm chịu áp lực như gót chân. Bệnh nhân cần nằm nghỉ cho đến khi các vết loét đều khỏi. Trường hợp nặng có thể phải phẫu thuật cắt bỏ thần kinh giao cảm. Nếu chi bị hoại tử phải cắt cụt.
Phòng bệnh: Cần mặc ấm, nên mặc vài lớp với áo ngoài cản gió. Quần áo, bít tất, giầy phải là đồ khô. Tránh mặc quần áo chật chội, gây nên các tư thế gò bó lâu. Nên tập vận động cánh tay, chân, các ngón chân và tay để duy trì tuần hoàn. Tránh ướt và hứng gió. Không hút thuốc lá và uống rượu khi có nguy cơ tê cóng.
BS. Trần Thục Anh
