Trong quá trình chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững, tiết kiệm năng lượng đang trở thành một trong những giải pháp thiết thực giúp các cơ sở y tế giảm chi phí vận hành, hạn chế tác động đến môi trường nhưng vẫn bảo đảm chất lượng khám, chữa bệnh. Từ thay đổi hệ thống chiếu sáng, tối ưu thiết bị đến ứng dụng năng lượng mặt trời, nhiều bệnh viện đang từng bước thay đổi cách sử dụng năng lượng.
Tối ưu năng lượng từ những thiết bị tiêu thụ lớn
Khác với nhiều công trình thông thường, bệnh viện phải duy trì hoạt động liên tục, với hệ thống máy móc và thiết bị công suất lớn vận hành trong thời gian dài. Điều hòa không khí, máy chẩn đoán hình ảnh, hệ thống khí y tế, thang máy, chiếu sáng và xử lý nước đều tiêu thụ lượng điện đáng kể. Vì vậy, tiết kiệm năng lượng trong bệnh viện không thể đơn giản là cắt giảm điện năng mà phải dựa trên việc tối ưu vận hành.
Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, bệnh viện xác định sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm chi phí vận hành, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, ông Lê Ngọc Thanh, Phó Giám đốc bệnh viện cho biết.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh xác định sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả nhằm giảm chi phí vận hành, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Ảnh BVCC
Theo ông Thanh, bệnh viện đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như thay thế hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED; lắp biến tần cho thiết bị công suất lớn; tối ưu vận hành hệ thống điều hòa trung tâm, máy bơm nước và điện mặt trời; tăng cường tận dụng ánh sáng, thông gió tự nhiên. Cùng với đó, công tác bảo trì, bảo dưỡng thiết bị được thực hiện thường xuyên nhằm duy trì hiệu suất vận hành.
Trong số các hệ thống tiêu thụ nhiều năng lượng, điều hòa không khí, các thiết bị chẩn đoán hình ảnh như MRI, CT, DSA, hệ thống khí y tế, thang máy, chiếu sáng và xử lý nước là những nhóm cần được kiểm soát chặt chẽ.
Bệnh viện xây dựng quy trình vận hành theo từng khung giờ, kiểm soát nhiệt độ điều hòa hợp lý, bố trí lịch vận hành thiết bị phù hợp và bảo dưỡng định kỳ để hạn chế lãng phí. Đây là cách tiếp cận cho thấy tiết kiệm năng lượng không nhất thiết phải bắt đầu bằng những khoản đầu tư lớn mà có thể đến từ việc thay đổi phương thức quản lý, sử dụng thiết bị đúng nhu cầu và duy trì tốt hệ thống kỹ thuật.
Đặc biệt, với cơ sở y tế, yếu tố tiết kiệm phải luôn đi cùng yêu cầu bảo đảm an toàn người bệnh. “Quan điểm của bệnh viện là tiết kiệm năng lượng nhưng tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn. Các khu vực cấp cứu, hồi sức, phòng mổ, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, kho thuốc và bảo quản máu luôn được ưu tiên bảo đảm nguồn điện ổn định, liên tục”, ông Lê Ngọc Thanh nhấn mạnh.

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng giúp giảm tiêu thụ điện, chi phí vận hành, tạo thêm nguồn lực đầu tư chuyên môn và nâng cấp trang thiết bị y tế. Ảnh BVCC.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu khác với tiết kiệm năng lượng trong các công trình dân dụng. Bệnh viện có thể giảm điện ở những khu vực, thời điểm không cần thiết, nhưng không thể cắt giảm nguồn cung cấp cho những hệ thống liên quan trực tiếp đến tính mạng và an toàn của người bệnh.
Tiết kiệm năng lượng tạo thêm nguồn lực cho y tế
Việc sử dụng năng lượng hiệu quả không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn có ý nghĩa kinh tế đối với bệnh viện. Khi mức tiêu thụ điện được kiểm soát, chi phí vận hành có thể giảm, đồng thời nguồn lực được dành nhiều hơn cho các hoạt động chuyên môn, đầu tư trang thiết bị và cải thiện chất lượng phục vụ người bệnh.
Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, việc triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng đã góp phần giảm mức tiêu thụ điện, tiết kiệm chi phí vận hành, qua đó tạo thêm nguồn lực đầu tư cho chuyên môn và nâng cấp trang thiết bị y tế. Đồng thời, hệ thống kỹ thuật vận hành ổn định hơn, hạn chế sự cố, nâng cao an toàn và cải thiện môi trường khám, chữa bệnh.
Nhìn rộng hơn, đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu xây dựng cơ sở y tế xanh. Một bệnh viện sử dụng hiệu quả năng lượng sẽ giảm lượng điện tiêu thụ không cần thiết, qua đó góp phần giảm phát thải và giảm áp lực lên hệ thống năng lượng. Việc tận dụng ánh sáng, thông gió tự nhiên, sử dụng thiết bị hiệu suất cao hay ứng dụng điện mặt trời cũng giúp cơ sở y tế từng bước giảm mức tiêu hao tài nguyên trong quá trình vận hành.
Tuy nhiên, chuyển đổi hạ tầng kỹ thuật tại bệnh viện không phải quá trình đơn giản. Theo ông Thanh, khó khăn lớn nhất trong cải tạo, đầu tư hạ tầng kỹ thuật là nguồn kinh phí còn hạn chế, trong khi bệnh viện phải ưu tiên nguồn lực cho chuyên môn và trang thiết bị y tế. Việc cải tạo cũng phải thực hiện trong điều kiện bệnh viện hoạt động liên tục 24/24 giờ, đòi hỏi phương án thi công chặt chẽ, bảo đảm an toàn và không ảnh hưởng đến người bệnh.
Để giải quyết bài toán này, bệnh viện huy động nguồn ngân sách Nhà nước, nguồn thu sự nghiệp, các chương trình đầu tư của ngành Y tế và nguồn xã hội hóa phù hợp quy định; đồng thời ưu tiên lựa chọn thiết bị có hiệu suất năng lượng cao ngay từ khâu đầu tư.
Đây cũng là điểm mà các doanh nghiệp công nghệ, thiết bị y tế và năng lượng có thể tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi xanh của ngành Y tế. Những giải pháp có hiệu suất cao, tuổi thọ dài, dễ bảo trì và phù hợp với đặc thù vận hành 24/7 của bệnh viện có thể giúp giảm chi phí trong suốt vòng đời thiết bị, thay vì chỉ nhìn vào giá đầu tư ban đầu.
Từ thực tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh có thể thấy, tiết kiệm năng lượng trong y tế không đồng nghĩa với giảm những nhu cầu thiết yếu của người bệnh. “Tiết kiệm năng lượng trước hết phải bắt đầu từ tối ưu vận hành, thay đổi công nghệ và nâng cao ý thức sử dụng, chứ không phải cắt giảm những nhu cầu thiết yếu phục vụ người bệnh”, ông Thanh cho hay.
Cách tiếp cận này cũng cho thấy y tế xanh không phải là một mục tiêu xa vời. Từ một hệ thống đèn LED, thiết bị biến tần, lịch vận hành hợp lý đến việc tận dụng năng lượng mặt trời và ánh sáng tự nhiên, mỗi giải pháp đều có thể góp phần làm thay đổi cách bệnh viện sử dụng nguồn lực. Khi tiết kiệm được gắn với hiệu quả chuyên môn và an toàn người bệnh, chuyển đổi xanh sẽ trở thành một phần thiết thực trong quá trình nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở y tế.