Tiếp cận theo hướng toàn diện và mở rộng

Thời sự
Bên cạnh những thành tựu cơ bản, hiện nay công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) đang đứng trước không ít những khó khăn và thách thức cần phải giải quyết.

Bên cạnh những thành tựu cơ bản, hiện nay công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) đang đứng trước không ít những khó khăn và thách thức cần phải giải quyết.

Thách thức lớn...

TS. Nguyễn Bá Thủy, Thứ trưởng Bộ Y tế: ... Trong 10 năm tới, khi điều kiện cho phép, chúng ta cần từng bước đổi mới cách tiếp cận CSSKSS theo hướng toàn diện, mở rộng hơn, đó là: Sức khỏe gia đình thay cho sức khỏe bà mẹ, trẻ em; Chăm lo sức khỏe phụ nữ thay vì chỉ lo cho sức khỏe của bà mẹ có thai; Nâng cao chất lượng dân số thay vì chỉ kiểm soát dân số; Tiếp cận tăng cường sức khỏe thay vì tiếp cận giải quyết bệnh tật .
Ông Bruce Campbell, Trưởng đại diện Quỹ dân số Liên hiệp quốc tại Việt Nam: Chiến lược CSSKSS ở Việt Nam trong thời gian tới phải có tính linh hoạt. Việc rà soát các hoạt động phải được thực hiện thường xuyên để có đánh giá đúng, từ đó mới có sự điều chỉnh thích hợp. Cần chú trọng đến các đối tượng người cao tuổi, người khuyết tật... Ngoài ra cũng cần chú trọng đến việc phát triển hệ thống y tế tư nhân. Vấn đề nguồn lực cũng là một vấn đề quan trọng. Cần đưa ra những vấn đề ưu tiên, làm thế nào để nguồn lực hạn chế mà vẫn đảm đương được do xác định đúng đối tượng.

Theo TS. Nguyễn Duy Khê - Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, công tác CSSKSS đang đứng trước không ít những khó khăn và thách thức. Đó là sự khác biệt khá lớn về tử vong mẹ và tử vong sơ sinh cũng như tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em giữa các vùng, miền. Tử vong mẹ ở vùng miền núi cao gấp 3- 4 lần so với đồng bằng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn cao ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển về thể lực và tầm vóc của các thế hệ người Việt Nam. Bên cạnh đó, tình trạng thừa cân béo phì đang có dấu hiệu gia tăng, đặc biệt ở lứa tuổi học đường khu vực thành phố. Theo điều tra của Viện dinh dưỡng, tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc đã ở mức 4,6%. Ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, tỷ lệ này đã ở mức tương đương, thậm chí cao hơn tỷ lệ suy dinh dưỡng. Tử vong trẻ em dưới 5 tuổi và dưới 1 tuổi đã giảm và giảm mạnh, nhưng tử vong sơ sinh vẫn còn khá cao, chiếm 70% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và 50% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi.

Mạng lưới CSSKSS ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều yếu kém. Ngoài điều kiện làm việc khó khăn thì đội ngũ cán bộ ở những nơi này còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn lại hạn chế, nhất là ở tuyến huyện và xã. Các vấn đề khác như vô sinh, nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, quan hệ tình dục trước hôn nhân, mang thai sớm, thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, bạo hành giới, ung thư đường sinh sản... cũng là những nội dung cần được giải quyết.

Và giải pháp tối ưu

Đánh giá công tác CSSK thời gian qua, ông Bruce Campbell, Trưởng đại diện Quỹ dân số Liên hiệp quốc tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam đã đạt được rất nhiều kết quả đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, trong thập kỷ tới, Việt Nam sẽ có nhiều biến đổi nhanh chóng. Những biến đổi đó không chỉ mang tới cơ hội mà còn cả những khó khăn. Sắp tới, khi Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế sẽ giảm, trong khi đó nhu cầu về CSSK lại tăng. Do vậy, cần sự nỗ lực rất lớn từ phía Bộ Y tế.

Trong chiến lược 10 năm tới, bên cạnh chỉ tiêu số lượng, mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, chất lượng dịch vụ KHHGĐ, dịch vụ CSSKSS sẽ được đặc biệt coi trọng   đồng thời với việc giảm sự khác biệt giữa các vùng miền; Tăng cường tiếp cận đi đôi với việc cải thiện chất lượng dịch vụ; Đầu tư có trọng điểm, tập trung ưu tiên cho các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; Ưu tiên các đối tượng có nguy cơ cao, các đối tượng bị thiệt thòi (đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, dân di cư, các bà mẹ có thai bị nguy cơ cao); Tăng cường vai trò của gia đình, cộng đồng và các đoàn thể xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Bá Thủy cũng cho biết 5 nội dung cơ bản được xác định tại Chiến lược toàn cầu và Chiến lược SKSS khu vực do Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương soạn thảo về cơ bản là phù hợp và cũng là những nội dung cần ưu tiên giải quyết đối với Việt Nam trong những năm tới. Đó là: Cải thiện chăm sóc trước, trong và sau sinh đồng thời chăm sóc sơ sinh. Làm mẹ an toàn phải kết hợp chặt chẽ và không thể tách rời với chăm sóc sơ sinh. Cung cấp dịch vụ KHHGĐ có chất lượng. KHHGĐ không chỉ nhằm mục đích kiểm soát gia tăng dân số mà còn tạo điều kiện để cho người phụ nữ giãn khoảng cách sinh. KHHGĐ cũng đồng thời bao gồm cả dự phòng và điều trị vô sinh. Giảm phá thai và loại trừ phá thai không an toàn. Dự phòng và kiểm soát các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV, ung thư cổ tử cung, ung thư vú và các bệnh phụ khoa khác. Sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản VTN, phòng chống lạm dụng bạo lực tình dục.

Bên cạnh đó, trong những năm tới, cần hoàn thiện hệ thống CSSKSS, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo tài chính và hậu cần, đẩy mạnh thông tin - giáo dục - truyền thông về công tác CSSKSS, đồng thời triển khai các giải pháp can thiệp về chuyên môn... để từ đó từng bước đổi mới cách tiếp cận CSSKSS theo hướng toàn diện và mở rộng.

Ngọc Trâm


Ý kiến của bạn