Nghệ sĩ nhân dân Quý Dương sinh năm 1937 tại Hải Dương, nguyên Giám đốc Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, một trong ba cây đại thụ của làng âm nhạc Việt Nam đã từ trần vào 12 giờ 45 phút trưa ngày 28/6 khi đang trên đường đến bệnh viện để chạy thận. Ðã gần 10 năm ông sống chung với căn bệnh hiểm nghèo này.
![]() |
Tốt nghiệp Trung học Chu Văn An Hà Nội năm 1956, Quý Dương cùng với những người bạn sau này cũng trở thành những nghệ sĩ nổi tiếng như Trần Hiếu, Hồ Quang Bình... cùng thi vào khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam (sau này là Học viện Âm nhạc quốc gia). Tốt nghiệp năm 1959, Quý Dương được giữ lại làm giảng viên thanh nhạc và sự nghiệp ca hát của ông bắt đầu từ đây.
Có thể nói Quý Dương là một sự hiếm hoi của nghệ thuật, người đã dùng phương pháp Bel canto kết hợp với cách xử lý của nghệ thuật ca hát dân gian Việt Nam để tạo ra một cách hát rất bác học mà vẫn gần gũi với thị hiếu âm nhạc của người Việt, người đã tạo ra một phong cách kết hợp nhuần nhụy giữa kỹ thuật thanh nhạc cổ điển với cách hát dân gian Việt Nam. Ông sở hữu bốn yếu tố căn bản nhất, làm nên đẳng cấp nghệ sĩ ca hát, đó là: có kỹ thuật thanh nhạc, hiểu sâu ngôn ngữ dân tộc, có tâm hồn dân tộc và một tình yêu đất nước.
Ông “mở đường” cho đào tạo thanh nhạc, người hát opera đầu tiên, đóng các vai chính những vở opera đầu tiên của Việt Nam và những vở kinh điển thế giới trên sân khấu Nhà hát Lớn HN, người đầu tiên hát trên Đài Tiếng nói VN… Nhưng cái đó chưa đáng nhớ bằng ông là người đầu tiên và có lẽ là duy nhất mang opera đến trại phong Quỳnh Lập (Nghệ An), hát cho những bệnh nhân thiếu hy vọng nhất về sự tồn tại chính đáng của mình. Ông đến không ồn ào mà tự nhiên như “người cùng khổ” đến với nhau bằng tình yêu và nỗi cảm hoài da diết, ông đến để mang tiếng hát của trái tim ông gieo vào tâm hồn họ những âm thanh như mang đến tiếng nói của thánh thần…
Giữa những năm 80, trong cương vị Phó GĐ Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, NSND Quý Dương đã cùng với nghệ sĩ pianô Hoàng My và nhiều người bạn khác nữa đề xướng tổ chức Đêm nhạc Văn Cao để giúp đỡ nhạc sĩ Văn Cao khi ông gặp khó khăn. Có thể nói đó là sự khởi đầu trong việc đặt các giá trị về lại đúng chỗ. Hơn 60 Đêm nhạc Văn Cao đã được tổ chức ở Hà Nội và nhiều tỉnh/thành phố khác. Những đêm diễn không chỉ mang lại thành công nghệ thuật mà thành công của nghệ thuật làm người. Dũng cảm đưa ra một hình thức khẳng định những giá trị có thật cũng là một hy sinh lớn lao, vì biết đâu tai họa có thể rơi vào đầu. Đêm đầu tiên trong chuỗi nhạc Văn Cao ấy ở Hàng Bạc, mọi người ai nấy đều rưng rưng nước mắt.
Hát và diễn opera từ khi còn chưa được học nhưng đã làm cho các ông thầy - chuyên gia, nghệ sĩ của Liên Xô (cũ), Triều Tiên, Trung Quốc phải kinh ngạc trước những vở diễn opera kinh điển thế giới nhưng từ 1979 - 1983, Quý Dương học thanh nhạc ở Bungari với sự đào tạo bài bản và hệ thống, từ đó, ông đạt tới tầm của một nghệ sĩ có đẳng cấp.
Ngoài dạy trong trường, ông còn dạy tất cả những ai muốn học. Câu lạc bộ đơn ca của Thành đoàn Hà Nội được thành lập là nhờ sáng kiến của ông. Những người học ở đó ban đầu là không chuyên mà giờ đây tên tuổi của họ khiến cho giới chuyên nghiệp lúc đó phải nể vì: Ngọc Bé, Kim Khuyên, Phi Yến, Bích Hậu, Đức Bình, Văn Sáu, Quốc Đông, Trọng Nghĩa, Huy Túc, Doãn Tần. Có người sau này còn là bậc thầy, đẳng cấp cao và là thầy của nhiều học trò khác. Dạy không lấy tiền, không kể giờ giấc, thầy và trò trở thành tình bạn.
Chưa đầy 20 tuổi, cùng bè bạn lập ban nhạc Tuổi Xanh đi hát phục vụ đồng bào. Sang trọng, trầm ấm, mượt mà, nhớ đến Quý Dương là nhớ đến những bài hát về quê hương, đất nước: Tình ca, Đàn chim Việt, Trương Chi, Thiên thai, Tấm áo mẹ vá năm xưa... Trong những ngày Mỹ ném bom Hà Nội, NSND Quý Dương là người thường xuyên túc trực tại Đài Tiếng nói Việt Nam, thậm chí ngay tại trận địa pháo hát phục vụ chiến sĩ và đồng bào.
Thời gian lâm bệnh, ngoài những giờ chạy chữa, ông vẫn ngồi bên cây đàn piano, vẫn dạy học trò, vẫn không lấy tiền, vẫn giữ cái tình của những người bạn tuổi vong niên, phải chăng tình người và sự đau đáu với nghệ thuật đã khiến ông không quên trách nhiệm đào tạo, cái trách nhiệm ông tự đặt ra cho bản thân mình. Đến với ông, người học không chỉ được tiếp cận với kỹ thuật thanh nhạc, được hiểu biết và trân trọng những giá trị âm nhạc đích thực mà còn được cảm nhận từ ông một niềm đam mê sự nghiệp, một tình yêu cuộc sống, nghị lực phi thường.
![]() NSND Quý Dương biểu diễn cùng dàn nhạc. Ảnh: Nguyễn Đình Toán |
Nếu bây giờ mọi thứ đều được “tính bằng tiền cho gọn và nhanh” thì “thời của Quý Dương” chẳng có gì hết, thậm chí chữ tiền nói ra dường như còn… hơi xấu hổ cho cả thầy lẫn trò. Chỉ có lòng biết ơn là sống động trong lòng. Và vì thế mà lớp lớp học trò của ông đã luôn có mặt trong thời gian ông lâm bệnh. Họ đến để tri kỷ với thầy, để thấy thầy vẫn đang làm việc, để nghe tiếng đàn của thầy, tiếng hát của thầy, để thấy tình chồng vợ, cha con trong gia đình thầy. Các con của ông dưới sự dạy dỗ của cha không chỉ trở nên những nghệ sĩ có tên tuổi như: Chí Trung (nghệ sĩ Nhà hát kịch), Quỳnh Trang (nghệ sĩ piano) mà còn là những người có tâm hồn và đạo đức nghề nghiệp…
Danh hiệu cao quý Nghệ sĩ nhân dân mà Nhà nước phong tặng cho ông vào đầu những năm 90 khẳng định những cống hiến nghệ thuật đáng trân trọng của ông. Phục hồi Nhà hát opera (nay là Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam), đào tạo lớp nghệ sĩ opera trẻ tuổi, sáng tác những vở opera phù hợp với đời sống và cảm xúc của con người Việt Nam hiện nay là ước mong lớn nhất của NSND Quý Dương và nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ với ông hiện nay. Mong sao mong ước của ông sẽ trở thành hiện thực...
Nén hương này xin thắp lên tưởng nhớ ông, bậc thầy nghệ thuật, tấm gương nghệ sĩ.
Thương Huyền

