Thương lắm, di sản...

Văn hóa – Giải trí
Di sản Việt Nam đa dạng, phong phú: vật thể, phi vật thể, thiên nhiên, kiến trúc... Kể từ năm 1993, khi quần thể cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới thì Việt Nam thấy rõ tiềm ẩn kho tàng di sản thế giới quý báu đang nắm giữ khá nhiều,

Tính đến ngày 24/11/2011, hát xoan là di sản thế giới thứ 16 của Việt Nam được UNESCO công nhận. Và vẫn còn nhiều di sản khác ở nước ta đang trong diện lập hồ sơ… Nhưng sau khi thành di sản thế giới, cách người dân ứng xử với di sản vẫn lạnh nhạt thờ ơ...

Tiềm ẩn kho tàng di sản thế giới ở Việt Nam

Di sản Việt Nam đa dạng, phong phú: vật thể, phi vật thể, thiên nhiên, kiến trúc... Kể từ năm 1993, khi quần thể cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới thì Việt Nam thấy rõ tiềm ẩn kho tàng di sản thế giới quý báu đang nắm giữ khá nhiều, nằm rải đều khắp chiều dài đất nước. Và tin vui đến với Việt Nam ngày một nhiều hơn. Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới có giá trị ngoại hạng về cảnh quan; Năm 2000, Vịnh Hạ Long lại được công nhận thêm là Di sản địa chất thế giới vì những giá trị độc đáo về địa chất địa mạo. Năm 1999, khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của đạo Hindu (Ấn Độ giáo) ở khu vực Đông Nam Á, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Năm 1999, UNESCO công nhận phố cổ Hội An là Di sản văn hóa thế giới. Năm 2003, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, hệ thống động Phong Nha có các sông ngầm dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, những bờ cát rộng và đẹp nhất, có những thạch nhũ đẹp nhất được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.
 
Ngày 3/10/2010, Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn đã chính thức là thành viên Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu của UNESCO - công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam và là thứ hai của Đông Nam Á. Ngày 1/8/2010, UNESCO thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hóa thế giới. Ngày 27/6/2011, tại Paris (Pháp), UNESCO đã công nhận di tích thành nhà Hồ ở Thanh Hóa là Di sản văn hóa thế giới. Năm 2003, Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên năm tỉnh Tây Nguyên chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Năm 2009, UNESCO chính thức công nhận quan họ, một trong những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
 
Ngày 30/7/2009, hồ sơ Mộc bản triều Nguyễn đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới. Ngày 1/10/2009, ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Ngày 9/3/2010, tại hội nghị thường niên của Ủy ban UNESCO họp tại Macao, Trung Quốc, bia đá tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám đã được tôn vinh là Di sản tư liệu thế giới - Di sản văn hoá của nhân loại. Ngày 16/11/2010, tại thủ đô Nairobi (Kenya), lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội) và đền Sóc (Sóc Sơn, Hà Nội) đã được tổ chức UNESCO thế giới vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 24/11/2011, tại đảo Bali (Indonesia), hát xoan Việt Nam được Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp.

Không chỉ dừng ở đây mà hiện tại, Việt Nam còn đang lập hồ sơ cho một số di sản, di tích văn hóa, lịch sử, địa lý… vật thể và phi vật thể trình lên UNESCO xét duyệt công nhận là di sản thế giới.

 Thánh địa Mỹ Sơn.

Khai thác hay tàn phá?

Số lượng di sản thế giới của Việt Nam được công nhận chưa thể gọi là nhiều. Câu hỏi quan trọng hơn phải đặt ra là Việt Nam đã ứng xử với các di sản được công nhận ra sao? Nỗ lực làm hồ sơ để UNESCO công nhận là một chuyện, nhưng có thật sự áp dụng những “chuẩn” của UNESCO trong việc bảo tồn, phát huy di sản đã được công nhận ấy hay không lại là một chuyện khác. Gần như các di sản thế giới ở Việt Nam đều nằm trong quy luật: Tự sinh, tự tồn, tự phát.

Với các di sản vật thể, cụ thể là các di tích như Vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bàng, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, quần thể cố đô Huế, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ thì việc khai thác gần như “khoán” trắng cho các cơ quan du lịch và sự tự phát của địa phương mà không có quy hoạch cụ thể, rõ ràng mang tầm chiến lược như một dự án kinh tế vĩ mô. Mạnh ai nấy làm, khai thác một cách vô tôi vạ, chỉ cần lợi nhuận trước mắt mà không cần xây dựng sự bền vững lâu dài. Như với Vịnh Hạ Long, một di sản có thể nói như kiệt tác của thiên nhiên độc nhất vô nhị trên thế giới, nhưng việc khai thác thì như kiểu “ăn xổi”, những sản phẩm dịch vụ đi kèm gần như không có gì ngoài ngắm đảo trên du thuyền, vào hang động chụp ảnh, tắm biển, thưởng thức hải sản, lặp đi lặp lại ở không chỉ du thuyền bình dân mà cả ở các du thuyền đẳng cấp vài sao.

Việc bảo tồn, giữ gìn di sản thì cứ như “chuyện xưa nói mãi”. Ngoài một phố cổ Hội An có vẻ đi vào nề nếp với các phố đi bộ, với việc đốt đèn lồng đêm rằm… nhưng cứ mỗi mùa bão lũ thì các căn nhà cổ, một thành phần của di sản lại bị đe dọa xóa sổ. Một quần thể cố đô Huế thì cứ luôn bị những mối đe dọa tiềm ẩn về việc phá di tích để lấy đất xây dựng những công trình hiện đại, kể cả việc kinh doanh café giải khát ngay trong lòng di tích, chưa kể còn bao công trình phải phục dựng thì nằm đó chờ trong sự tàn phá không chỉ của thời gian mà của cả con người: Lầu Tứ Phương vô sự thành quán cà phê, Võ Miếu tan hoang, lăng mộ các chúa Nguyễn cỏ ngút dày không kẻ đoái hoài..., một Vịnh Hạ Long đẹp thế nhưng cũng bẽ bàng và xấu hổ với khách phương xa khi trên mặt nưóc vịnh đầy rác thải bởi những công trình vệ sinh trên vịnh không được chú trọng. Rồi một Phong Nha - Kẻ Bàng thì xa xôi cách trở với đường đi không thuận lợi, nhất là vào mùa mưa, gây chùn bước du khách.

Với di sản mang tính tư liệu, khoan hãy nói tới việc khai thác như cho các chuyên gia dịch thuật, copy hay số hóa di sản để tiện việc nghiên cứu thì ngay bảo quản, giữ gìn cũng nảy sinh nhiều vấn đề. Với các chất liệu có thể bị thời gian và thời tiết phá hoại như gỗ, giấy… thì không có kế hoạch để các nhà khoa học tham gia nghiên cứu bảo quản hay số hóa để tiện việc nghiên cứu văn bản. Rất phản cảm khi ở nhà bia Văn Miếu - Quốc Tử giám, Hà Nội, lù lù trước đầu rùa đá là mấy cái hòm gỗ để bỏ tiền vào, vừa mất thẩm mỹ vừa chứng tỏ một cách ứng xử thiếu văn minh với di sản bởi cái sự ấu trĩ trong cách hành xử?

Còn với các di sản văn hóa phi vật thể, việc ứng xử với các di sản này có thể nói là một kiểu ứng xử thiếu văn minh, làm buồn lòng những ai có tâm với những di sản văn hóa. Những nhã nhạc cung đình Huế, thay vì chỉ biểu diễn trong các lễ hội lớn trên sân khấu lớn thì được “chẻ” nhỏ để biểu diễn trong vài show được đặt hàng bởi các tour du lịch; ca trù, quan họ thì còn buồn hơn, có khi chỉ được (hay bị) biểu diễn trong một nhà hàng như một thứ góp vui cho khách du lịch ăn uống vui vẻ. Cồng chiêng Tây Nguyên thay vì có không gian của thiên nhiên, của rừng núi thì lại bị sân khấu hóa như một tiết mục biểu diễn trong sự kiện văn hóa nào đó. Chưa kể những sự thật buồn tưởng chuyện đùa như trong Liên hoan Ca trù toàn quốc vừa diễn ra ở Hà Nội tháng 10/2011, phần lớn ca nương và các giáo phường đều không hiểu biết ca trù mà bị lai tạp ở các loại hình ca nhạc dân gian khác. Rồi quan họ mà cứ đàn sáo tưng bừng cộng với tăng âm, micro điện tử, hát mà như hét vào tai nhau, chưa kể các “trò” xin tiền trắng trợn trong các canh hát quan họ, làm mất đi nét đẹp của một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

 Ca trù được truyền dạy lại cho thế hệ ca nương trẻ đã bị pha tạp khá nhiều. Ảnh: Việt Văn

Ứng xử với di sản thế nào cho khỏi phụ tình non nước?

Cách khai thác di sản thế giới ở Việt Nam như hiện nay là một kiểu tận thu tận diệt, không có một sự nương tay với di sản, như một cách “ăn xổi”, giống như của trời cho nên không cần phải giữ gìn, bảo tồn mà cứ khai thác cho đến cạn kiệt. Chính vì thế mà tình trạng xuống cấp của các di sản ngày càng báo động, làm cho di sản đã “thương tật” lại càng “tật nguyền” đến đau lòng.

Việc quảng bá di sản thế giới ở Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ làm theo thời vụ, khi có sự kiện, không có một chiến lược cụ thể, chuyên nghiệp từ tất cả các khâu và mang tính lâu dài, bền vững, như xây dựng trang web riêng của di sản, in ấn tờ rơi quảng cáo, in ấn các ấn phẩm giới thiệu về di sản, thông tin các sản phẩm dịch vụ kèm theo… để di sản thực sự là điểm đến, điểm dừng cho du khách thêm trân trọng, yêu mến đất nước, con người Việt Nam.

Ngay chính những người có trách nhiệm trực tiếp trong quản lý di sản cũng chưa đưa ra được những dự án mang tính chiến lược để khai thác vốn tài sản quý giá này, mà chỉ trông chờ vào việc tự sinh, tự tồn, tự phát của nó; chưa quy di sản về một mối như một liên kết các di sản thế giới ở Việt Nam với nhau tạo thành một chuỗi di sản để tạo nên hành trình di sản cho khách tham quan đến với di sản nhanh nhất, nhiều nhất và hiệu quả nhất.

Di sản thế giới ở Việt Nam là một tài sản không chỉ mang tính phi vật thể mà còn có giá trị vật chất. Theo cách đánh giá của UNESCO thì mỗi di sản được xếp hạng, có giá trị “thương hiệu” lên tới 500 triệu USD và có thể thu hút ít nhất 1 tỉ người đến với di sản. Ngoài ra, di sản còn là một thứ “của để dành”, một thứ “gia bảo” của tiền nhân để lại. Nên có một cách ứng xử với di sản sao cho di sản được xứng tầm, được trân trọng, được giữ gìn bảo tồn và “sống” một cách đích thực, là niềm tự hào trong mỗi người dân Việt, để khỏi phụ tình non nước đã để lại cho ta di sản không chỉ của ta mà là của cả nhân loại.

Minh Châu


Ý kiến của bạn