Thu này, bà Gillon không sang Việt Nam!

Văn hóa – Giải trí
Điện từ Pháp sang như sét đánh: bà Gillon vừa từ trần. Chúng tôi không ngờ có lúc bà lại “lỡ hẹn với Việt Nam”. Năm nào, khi có gió heo may, chúng tôi cũng chờ đợi nữ giáo sư văn học Gillon của Đại học Paris.
(SKDS) - Điện từ Pháp sang như sét đánh: bà Gillon vừa từ trần. Chúng tôi không ngờ có lúc bà lại “lỡ hẹn với Việt Nam”. Năm nào, khi có gió heo may, chúng tôi cũng chờ đợi nữ giáo sư văn học Gillon của Đại học Paris.

Thu này, bà đã không thể sang Việt Nam để dạo chơi khu phố cổ Hà thành, đi các chợ để thưởng thức quà đủ thứ và tập nói tiếng Việt với các bà bán hàng, ngồi ở gốc đa Văn Miếu để hưởng cái yên tĩnh hiếm có của Việt Nam, trình bày văn học Pháp cho Trường đại học Ngoại ngữ, nhấm nháp bia hơi với lạc rang cùng nhiều bạn Việt cũ và mới.

Việt Nam với bà đã là quê hương thứ hai, có khi còn hơn thế nữa.

Có lần bà tâm sự với tôi: “Tôi có máu Việt Nam trong người”. Tôi chưa bao giờ hỏi rõ nguyên cớ, mà tôi nghĩ cũng chẳng cần hỏi rõ làm gì.

Điều tôi chắc chắn là bà có một trái tim Việt Nam, một trái tim đập theo nhịp vui buồn của nhân dân ta. Hình như ông hay bà của bà này là người Việt! Hoặc có thể cha bà sinh ở Việt Nam?

Từ hơn chục năm nay, sau khi về hưu, bà toàn tâm toàn ý phục vụ Việt Nam, bắc một nhịp cầu văn hóa giữa hai dân tộc Pháp - Việt.

Tuy kinh tế gia đình không dư dật, năm nào bà cũng bỏ tiền riêng sang Việt Nam dạy không thù lao ở trường đại học của ta. Hẳn các giáo sư và sinh viên ta không bao giờ quên những bài giảng, những buổi thuyết trình sâu sắc của bà về văn học cổ điển và hiện đại Pháp, luôn luôn cập nhật các khuynh hướng, tác phẩm và giải thưởng văn học.

Từ hơn 10 năm nay, đóng góp lớn của bà là đã cùng nhà sử học Alain Russio xây dựng Tổ chức CID-VIETNAM (Trung tâm Thông tin và Tư liệu Việt Nam hiện đại) ở Paris. Ta có thể tưởng tượng những khó khăn vật chất (tài chính, trụ sở, trị sự… kinh phí mua tài liệu) của một nhóm trí thức Pháp giàu lòng yêu Việt Nam mà thiếu thốn đủ thứ. Một trung tâm vô cùng hữu ích để tuyên truyền cho ta ở phương Tây, sao ta không trợ cấp? CID còn cho ra đều bản tin thường xuyên giới thiệu sách báo, tài liệu mới sưu tầm được để phục vụ các nhà nghiên cứu về Việt Nam.

Dịch văn học Việt sang tiếng Pháp cũng là niềm say mê đóng góp của bà Gillon. Bà đã giúp các giáo viên và dịch giả của ta hoàn thành và xuất bản 2 tập truyện ngắn dịch sang tiếng Pháp. Bản thân bà đã dịch Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Số đỏ của Vũ Trọng Phụng với sự cộng tác của anh Phan Hồng (đã mất, con nhà thơ Phan Khắc Khoan). Lao động dịch chung này rất công phu và có trách nhiệm: anh Hồng dịch miệng, sơ bộ từng chữ từng câu, hai người cùng tìm từ Pháp nào diễn tả được cái thần của tiếng Việt.

Phương pháp dịch thuật chung (một người bản xứ và một người nước ngoài) hiện khá phổ biến ở Nhật và ở Trung Quốc. Bà Gillon rất thận trọng, luôn luôn sợ phản lại cái thần của tiếng Việt. Bà nhận thức sâu sắc về sự chuyển tiếng Việt là một ngôn ngữ tổng hợp, phát âm có nhạc, nặng về gợi ý và cảm xúc, sang tiếng Pháp là một ngôn ngữ phân tách, theo lý tính, logic. Bà luôn nhắc nhở đừng đánh mất chất thơ của tiếng Việt. Bà ví tiếng Việt và văn hóa Việt với cây đa: “Chúng ta biết rằng cây đa ám ảnh trí tưởng tượng người Việt. Vậy cho tôi so sánh tiếng Việt với cây đa cổ thụ cùng lũy tre xanh và cái cò, con trâu, tượng trưng cho làng Việt. Cây đa trong các chuyện cổ xưa và cả trong những tác phẩm bình dân, hiện đại nhất. Cây đa khiến trẻ con mơ ước và người già nhớ nhung. Cây đa - nơi ở của các vị thần ban phước. Cũng như cây đa, tiếng Việt có rễ cắm sâu vào lòng đất vững chắc, không gì phá hủy được. Nhưng cây đa cũng có rất nhiều rễ rủ. Những rễ này lơ lửng trên không trông như những con rắn giãy giụa…”.

Ví văn hóa Việt Nam như rễ cây đa, bà Gillon muốn nói lên khả năng của người Việt giữ được bản sắc (như rễ chính). Việt hóa văn hóa ngoại lai thành các rễ rủ (Trung Quốc, Pháp…).

Bà Gillon còn là một nhà phê bình văn học tế nhị và sâu sắc.Điều này biểu hiện trong những bài bà giới thiệu trong Tạp chí Pháp – Anh (Études Vietnamiennes - Nghiên cứu Việt Nam). Thí dụ, năm nay có bài giới thiệu cuốn tiểu thuyết lịch sử Ông Lười biếng (tức Lãn Ông Lê Hữu Trác) của nhà văn nữ Yveline Féray đã nổi tiếng về tác phẩm 800 trang là Vạn Xuân (về Nguyễn Trãi). Sau khi đọc bài phê bình, tác giả rất mến phục Gillon vì đã hiểu rõ ý đồ và tâm tư của mình đến thế. Féray viết cho Gillon: “Đọc bài của chị, tôi nhận thấy là tất cả những gì tôi đưa vào sách của tôi, có ý thức hay không, tất cả những gì tôi mong muốn có ý thức hay không, chị không hề để sót một cái gì”. Một sự thông cảm hoàn hảo giữa độc giả và tác giả, y như Bá Nha với Tử Kỳ.     

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn