Thợ săn trên biển lớn (Kỳ II)

Xã hội
“Vậy mà bữa nay đã là chiều thứ mười tám rồi đấy anh ạ!”, thuyền trưởng Dũng nói với tôi khi phía xa xa, bầu trời bỗng xám đen và nhập nhằng những ánh chớp.

Kỳ II: Bão táp đại dương

“Vậy mà bữa nay đã là chiều thứ mười tám rồi đấy anh ạ!”, thuyền trưởng Dũng nói với tôi khi phía xa xa, bầu trời bỗng xám đen và nhập nhằng những ánh chớp. “Giá anh đi vào tháng trước thì nhàn hơn, tháng này bắt đầu có bão và thường có gió Tây Nam.” - “Gió Tây Nam thì sao?” - “Sóng lớn, tàu lắc mạnh, lại hay mưa nữa; cá cũng ít”. Quả thực đứng trên tàu giữa mênh mông trời biển, nhìn những ngọn sóng dập dờn trùng điệp như một đàn ngựa chiến hùng hổ lao về từ phía Tây Nam, người cũng thấy nôn nao. Nước biển xám lạnh như con ngươi loài dã thú thỉnh thoảng lại ngầu bọt trắng xóa. Con tàu lắc lư như một thứ đồ chơi trong tay đứa trẻ con đỏng đảnh đang cơn dằn dỗi. Đêm hôm đó, dự báo thời tiết cho biết có áp thấp nhiệt đới, biển động tới cấp 6 ở ngoài khơi vĩ tuyến 17...

Chữ “ngờ” trên biển

Hôm đó sau khi đã bủa câu, như mọi ngày, con tàu và chiếc giằng lại dắt díu nhau vật vờ trên biển. Gió chiều nay mạnh hơn mọi ngày, trời cũng tối sớm hơn bởi những đám mây đen giăng khắp. Và mưa. Cơn mưa lớn nhất kể từ ngày chúng tôi ra khơi tới giờ và có lẽ là cơn mưa khủng khiếp nhất đối với riêng tôi từ trước tới nay. Nước mưa dột lênh láng khắp trong cabin hòa cùng với nước biển hắt từ dưới lên khiến tất cả mọi vật đều ướt sũng. Trong cảm giác của tôi, biển đã gào lên thực sự. Giữa đen ngòm của trời và nước thỉnh thoảng lại  lóe lên những ánh chớp chói gắt đến rủn người. Đã xuất hiện những cái chau mày đầy phân vân của những người trên tàu mà với tôi, đó là những chiếc “phong vũ biểu” chính xác và nhạy cảm nhất về sự an toàn. Không còn cách nào khác, thuyền trưởng Dũng đành phải cho tàu nổ máy thu câu sớm, một việc làm vô cùng hạn chế của người đi biển từ trước tới nay. Khi tiếng máy gầm lên, tàu bớt tròng trành đôi chút, cảm giác bị động cũng bớt đi phần nào. Nhưng trong ánh mắt của những người bạn, hình như mong muốn và mọi sự cố gắng lúc này là thu về được hết dây câu chứ không phải là cá nữa...

Sợi dây câu lúc thả xuống biển theo đường thẳng vậy mà lúc thu về, tàu phải chạy theo hình chữ chi. Dân bạn trùm áo mưa lụng thụng vừa làm vừa vuốt nước ròng ròng trên mặt. Mấy bữa trước ngoài khơi, khi tàu đỗ, thấy mọi người không thả neo mà thả xuống biển một chiếc túi lớn được ghép lại từ những chiếc bao xác rắn, bên ngoài gia cố thêm một lượt lưới đan bằng dây thừng khá chắc chắn; dụng cụ này được gọi là cái giằng. Tôi hỏi: “Sao không thả neo lại thả giằng?”, một người trả lời: “Nước ở đây sâu, neo nào thả cho lại...”. “Sâu là bao nhiêu?”; Nhìn mặt nước một lát, anh ta trả lời giọng tỉnh khô: “Chừng hai ngàn thước...”. Tự dưng tôi thấy chân mình có vẻ như đứng không vững...

 Bão biển luôn là mối đe dọa thường trực đối với ngư dân.

Cái giằng khi được thả xuống biển sẽ trở thành một túi nước nặng, có tác dụng như một đối trọng giúp con tàu đỡ bồng bềnh chứ không có tác dụng giữ cho nó đứng yên một chỗ được. Cả hai sẽ cùng vật vờ trôi theo sóng, nhiều lúc khá xa. Đã có lần từ chỗ bủa câu xong, thả giằng rồi mà tới khi đi tìm để thu câu phải chạy mất cả tiếng đồng hồ.

Trong gió bão, tiếng máy tàu bỗng gằn lên bất thường và bàn tay trên vô lăng của Dũng đêm nay sao có vẻ gì lúng túng. Sự nhịp nhàng của một guồng máy mà bấy nay tôi vẫn thầm khâm phục bỗng chuệch choạc hẳn. Trong tiếng mưa, tiếng sóng, tiếng máy và vô số những âm thanh hỗn loạn trên biển lúc này, Dũng nói nhỏ vào tai Sĩ, người em ruột cùng có mặt trên tàu, một điều gì đó mà tôi nghe không rõ; từ khi ấy không thấy Sĩ trong tốp người đang hối hả thu câu ngoài “boong” nữa. Cậu ta chạy lên chạy xuống liên tục giữa buồng lái và khoang máy, vẻ mặt đầy căng thẳng...

Giờ đây trong cơn giông của chiều mưa “thứ mười tám”, nghe tiếng vặn răng rắc những mộng gỗ của chiếc tàu, cảm giác lành lạnh không phải chỉ thấm từ những hạt mưa, những đợt gió quất từ bên ngoài vào mà hình như từ những ống xương ra... Nhìn vẻ mặt thản nhiên của những người xung quanh, đành tạm an lòng với ý nghĩ: Quá lắm mình chỉ là người chết đầu tiên. Ở đây cách bờ hơn trăm hải lý (gần 200 km), sâu hai ngàn thước, mà dân biển anh nào giỏi cũng chỉ bơi liên tục được 3 tiếng đồng hồ...

Trong khi cố sức bình sinh để giữ cho ruột gan khỏi lộn tùng phèo lên trong bụng, không phải vì lo cho số phận chiếc xe đã đem đặt cọc, mà chính là không muốn mang tiếng một kẻ đào tẩu thì những người dân biển vẫn thản nhiên thả lưới, thu câu. Quả thực là đến ngày thứ năm thì cái cần vượt qua không còn là sóng, là gió, là biển nữa mà lại là nỗi buồn của chính bản thân mình. Trong 9 người có mặt trên tàu lúc này thì 8 người có chung một mục đích, một công việc; chỉ riêng mình tôi như kẻ vô công rồi nghề. Mọi công việc trên tàu nhìn thì đã quen, đã thuộc đến nhàm chán, nhưng mó vào việc gì cũng thấy bỡ ngỡ, gượng gạo. Xưa kia biển hấp dẫn là thế, quyến rũ là thế; đứng trên những bãi cát ở Sầm Sơn, Trà Cổ, Sa Huỳnh, Quy Nhơn..., dường như vẫn có một sức mạnh nào đó cứ hút lấy mình, bắt mình phải bỏ dép mà lội ào vào với biển. Còn giờ đây, biển đã mở mắt cho mình thấy cái nhỏ nhoi, hữu hạn và bất lực của con người trước thiên nhiên. Ấy vậy mà chưa một phút nào tôi cảm thấy ân hận về cái quyết định xuống tàu của mình. Có lẽ trong rất nhiều điều học được từ biển thì chiến thắng được sự chán nản và sợ hãi cũng là một ấn tượng đáng ghi nhớ.

Buồn vui với biển

Chật vật mãi rồi sợi dây câu cũng được thu hết lại khi trời gần sáng. Mưa cũng ngớt dần, chỉ còn những con sóng nhấp nhô, sản phẩm của gió Tây Nam, đưa đẩy con tàu như một sự dỗ dành vụng về bởi những gì đã xảy đến đêm qua. Nhìn đám bạn ngủ lăn lóc trên chiếc phản đã chuyển màu thâm sì vì nước, tôi chưa kịp nốt cái tiếng thở phào trút gánh thì bỗng thấy hai anh em Dũng -Sĩ, mắt ngầu đỏ, đang lúi húi phía đuôi tàu. Ra tới nơi thì chỉ kịp nghe thấy một câu thảng thốt: Hỏng!...

Thì ra đêm qua trong cơn động biển, chiếc tàu của chúng tôi đã bị đứt sợi dây điều khiển bánh lái (dân biển ở đây gọi là sợi cương). Chiếc bánh lái trong khi quay tự do đã đập gãy một trong 3 chiếc cánh của chân vịt. Con tàu mất khả năng điều khiển, vật vờ như một chiếc lá, quằn quại, lênh đênh...

Bật máy định vị, một con số lạ hoắc hiện lên.

Nhìn ra xung quanh, vẫn chỉ nước là nước...

Anh chàng thuyền trưởng 26 tuổi mở máy bộ đàm liên lạc với một con tàu ở gần đó; nghe trong máy tiếng một cụ già: “Chưa gặp trường hợp này bao giờ...”.

Phía mũi tàu, bó hương vẫn dùng thắp trước mỗi lần bủa câu, giờ ai đó đã lại thắp lên, cháy quá nửa...

Mặt trời chuyển dần từ màu đỏ sang màu vàng, rồi trắng gay gắt. Những người bạn lần lượt thức dậy, không ai nói với ai câu nào. Một sự im lặng đến khó thở trùm khắp con tàu... 

Bữa đó phải mất cả buổi sáng, hai anh thợ lặn bất đắc dĩ là Dũng và Sĩ mới thay được sợi dây cương cho bánh lái, còn chiếc chân vịt thì đành chịu. Chiếc tàu bị “què” ì ạch đưa chúng tôi chạy gần hết ngày hôm đó mới trở về được vị trí trước khi bị trôi và qua suốt đêm hôm đó, tới gần trưa hôm sau, ngọn Đá Bia mới lờ mờ hiện ra bằng... điếu thuốc lá. Cứ giả thiết cơn bão đêm đó không kịp tan thì chẳng biết rồi ai sẽ là người nhận được chiếc nhẫn của tôi trong bụng một con cá bò gù nào đó nay mai đây?... Mà thực ra cũng chẳng cần nghĩ xa đến như vậy, có bao nhiêu việc hàng ngày đang diễn ra quanh ta vô cùng đơn giản. Vậy mà khi ra đến ngoài khơi kia mới nhận ra đó là cả một vấn đề sống còn, ví như câu hỏi của một người bạn trước lúc lên đường: “Ông đã mổ ruột thừa chưa? Chẳng may ra tới ngoài đó đau thì ông tính sao?”. Trời đất, đúng là chuyện vô hậu!...

Trong tâm trạng như vậy, vào một ngày mà số cá trong khoang đã hòm hòm gần 3 tạ thì chúng tôi gặp một sự cố mà có lẽ cả một đời đi biển cũng hiếm có người gặp phải. 3 tạ cá, may ra thì hòa vốn nếu không tính đến chiếc chân vịt sẽ phải thay thế sau chuyến đi này. Giá thu mua cá trên bến biến đổi từng ngày. Nước ngọt còn, dầu nhớt còn, lương thực còn; nhưng hành trình mới qua được 2/3 số ngày đã phải khép lại, âu cũng là một lần dang dở.

 Cá được kéo lên tàu sau khi bị quần mệt nhừ.

Rong ruổi trên con đường thiên lý xuôi Nam, tôi đã phát hiện ra một cách tính thời gian khá độc đáo; ấy là bằng bóng nắng trên hai cánh tay. Bắt đầu từ bàn tay trái, nắng leo dần lên cánh tay, rồi vai, rồi giữa đỉnh đầu. Cho đến khi nắng bò xuôi hết bàn tay phải là hết một ngày. Còn trên biển vào dịp này thì có nhiều khi chẳng thể nào phân biệt được hoàng hôn với bình minh nữa. Có những khoảng thời gian rất dài cả mặt trăng và mặt trời cùng xuất hiện bên trời. Cách tốt nhất là nhìn vào màu của nước. Mới chiều qua trời vừa đỏ ối thì sớm nay đã lại ối đỏ; nhưng nước biển hoàng hôn dường như ngả về màu tím nhiều hơn... Nhưng cũng chỉ một ngày đầu tiên ngắm biển vậy thôi, những ngày sau đó công việc của những người bạn trên tàu quả là một chiếc đồng hồ đều đặn và nhẫn nại...

“Dân biển tội lắm anh ạ, sau mỗi chuyến đi như thế này, về nhà được độ 2 - 3 ngày là lại tiếp tục chuyến nữa. Có biết còn thú vui nào khác nữa đâu mà chẳng đẻ nhiều, mà càng đẻ nhiều thì lại càng khổ...”. Ngô Văn Mí, một dân bạn tâm sự với tôi như vậy. Mí năm nay 32 tuổi, có 3 con mà trông chỉ trẻ hơn... bố tôi có một chút xíu... Không chỉ riêng Mí, hầu hết anh em trên tàu đều có vẻ già và khắc khổ hơn so với tuổi thật của mình rất nhiều. Và còn điều này nữa, cuộc sống lênh đênh triền miên như vậy đã bứt họ ra khỏi đời sống xã hội với một khoảng cách đáng sợ. Họ xa lạ với mọi thông tin, họ ngơ ngác với bất kỳ công việc gì khác ngoài công việc thường ngày của họ. Suốt chuyến đi, câu chuyện của họ chỉ xoay quanh biển, cá bò gù và... vợ. Thậm chí còn có chuyện khi thấy tôi đem giấy bút ra ghi chép thì cậu bé Kim Đa, 17 tuổi lại gần và hỏi, một câu hỏi bất ngờ đến xót lòng: “Tờ giấy bé thế, mà chữ chú xấu vậy thì viết báo ai mà đọc nổi?...”. Ấy vậy mà sự đôn hậu, chất phác của họ thì khó có ai bì kịp. Lầm lì đến thô ráp, nhưng bên trong họ là cả một tấm lòng.

Sống bên những con người chất phác ấy, tự dưng tôi có cảm giác thật bùi ngùi nếu ngày mốt phải chia tay khi tàu về bến! Vâng, ngày mốt rất có thể cũng là lúc những người bạn đang mệt mỏi bước chân trên đường trở về kia sẽ lại hối hả bắt đầu cho một chuyến biển mới. Còn bây giờ, xóm chài đang chờ đón họ như những người khách phương xa...

Và món quà tôi mang về từ biển là một chiếc lưỡi câu to gần bằng ngón tay út, trên mẩu cước còn nham nhở dấu răng cá tướp xơ, dấu vết của sự vùng vẫy đầy tuyệt vọng, nhưng cũng đồng thời là chứng tích về sự chiến thắng của những con người hồn nhiên, quả cảm giữa đại dương.

Phóng sự của Lương Ngọc An


Ý kiến của bạn