Xuất phát từ vùng biển dưới chân đèo Cả, họ tiến về phía Đông chừng hơn trăm hải lý (xấp xỉ 200 km) rồi từ đó dọc theo chiều dài bờ biển, họ đi săn lùng những con mồi. Có lúc vào tới Kiên Giang, Phú Quốc; có lúc lại ra tới tận Hải Phòng, Quảng Ninh... Trong những chuyến biển dài trên dưới hai chục ngày ấy, có lần họ ghé lại Quảng Ninh, lên bờ về Hà Nội thăm Lăng Bác rồi mới quay trở lại, xuống tàu để về Phú Yên. "Với dân biển tụi em, quả thực tàu là nhà, biển là quê hương anh ạ". Ấy là lời bộc bạch của họ...
Trước lễ “nhập môn”
Khi biết tôi có ý định theo tàu đi câu cá ngừ đại dương, bạn bè ở Phú Yên nhìn từ đầu đến chân rồi bảo: "Sức ông may ra chịu nổi. Trước đây đã có hai tay phóng viên đi một chuyến rồi; say sóng chỉ là một chuyện, nhưng coi chừng buồn lắm đó. Nhưng ông đã có tiền chưa?". “Tiền gì vậy?" - "Tiền đặt cọc. Dân biển ở đây có quy định mỗi người lạ xuống tàu đều phải đặt cọc từ 10 đến 15 triệu đồng. Đó là khoản tiền đủ chi phí cho một chuyến biển; phòng khi ông đau ốm hoặc say sóng phải bỏ dở chuyến đi để đưa ông vào bờ thì ông sẽ phải chịu toàn bộ khoản chi phí đó...". 10 triệu đồng, biết lấy đâu ra bây giờ... Thôi thì đã chơi, chơi tới bến. Sẵn có chiếc xe máy đem theo, nay xuống biển không cần nữa, đặt luôn. Cũng may mà được chấp nhận. Ông Chủ tịch phường 6 thị xã Tuy Hòa, nơi có bến tàu tôi sẽ đi, nói như phân bua: "Anh phải thật thông cảm với họ; mỗi chiếc tàu của họ, nhỏ thì 300 - 400 triệu đồng, lớn thì cũng phải 700 - 800 triệu; chi phí mỗi chuyến đi cũng hàng chục triệu đồng, bao nhiêu gia đình đều trông chờ vào đấy cả nên họ cũng phải thận trọng". Còn ông Bảy Sót, chủ tàu thì bảo: "Cốt là để chú phải lượng sức mình và có thêm trách nhiệm với anh em thôi...". Nhưng khi được biết tôi từng là lính xe tăng, lại cũng từng "hành quân" ra tới Trường Sa thì ông cười thật to và vỗ mạnh vào vai tôi: "Được!"...
Ra khơi. |
Ra khơi
Rời bến từ 11giờ 30 phút, ra tới cửa sông Đà Rằng, chiếc tàu, thực ra chỉ là một chiếc ghe tải trọng chừng 5 tấn, neo lại để làm lễ cúng thủy thần, nghi lễ gần như bắt buộc của dân biển trước mỗi chuyến ra khơi. Nhìn vẻ mặt thành kính và thái độ thận trọng của mọi người trên tàu, cái cảm giác linh thiêng chợt ùa đến. Chỉ một lát nữa thôi, 9 con người nhỏ nhoi này sẽ dấn mình ra giữa biển khơi trên một con tàu cũng nhỏ nhoi không kém để vật lộn với cuộc mưu sinh. Điều gì khiến họ có đủ can đảm và sức mạnh để ra đi, đối mặt với sóng gió, với cô đơn và với bao bất trắc để rồi một ngày kia lại trở về nguyên vẹn? Kinh nghiệm ư? Sức khoẻ ư? Độ tin cậy của phương tiện ư?... Hình như tất cả đều chưa đủ. Họ còn phải có một lòng tin vào những điều may mắn nữa. Họ tin sự chân thành của họ sẽ được Thần biển thấu hiểu, phù hộ và che chở; họ sẽ bắt được nhiều cá, sẽ bình yên trở về... Khi mà cuộc sống, sự tồn tại của mỗi con người đặt vào một nơi càng khắc nghiệt bao nhiêu thì người ta càng cần phải có một lòng tin lớn lao bấy nhiêu. Chẳng thế mà những người đi biển có không biết bao nhiêu điều kiêng cữ: kiêng không lật cá khi ăn vì cho rằng đó là biểu hiện dấu hiệu lật thuyền; kiêng không ngồi lên trên mũi tàu vì nơi đó được coi là "bàn thờ" để thờ cúng thủy thần; kiêng không ngồi tựa lưng vào sọt đựng lưới, đựng dây câu vì cho rằng làm như vậy sẽ không bắt được cá; kiêng không ngồi bó gối trên tàu vì ngồi bó gối là biểu hiện của sự thất bại... Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự trong sạch của mỗi người. Đêm trước ngày đi biển, không ai được quan hệ với vợ. Để có một chuyến biển bình an, trọn vẹn, họ tin rằng họ phải đem xuống biển một cơ thể thanh sạch và một tâm hồn trong sáng cùng sự thuỷ chung của những người đang chờ đợi họ trên bờ... Những con người vẫn được coi là "ăn sóng nói gió" ấy từ thẳm sâu vẫn mang một nỗi niềm trong veo như vậy đó.
Khi bữa ăn trưa kết thúc, con tàu quay mũi về hướng Đông. Mỏm Đá Bia trên đỉnh đèo Cả thấp dần, thấp dần phía sau lưng; dưới mạn tàu, nước chuyển dần từ màu nâu của phù sa sang màu xanh nhạt của nước xạ hai (nước lợ vùng cửa sông), rồi tới màu xanh đậm của nước biển. Giờ đây trước mặt chúng tôi chỉ còn những sóng và sóng...
Việc đầu tiên của một chuyến câu là kiếm mồi. Sáng sớm, từ lúc 5 giờ, những người bạn thả xuống biển một tấm lưới gọi là lưới chuồn. Cá chuồn là loại cá ăn ở tầng nước trên cùng. Lưới chuồn rộng khoảng 1m, dài khoảng gần 30m mỗi tấm. 80 tấm lưới nhỏ như vậy ghép lại thành tấm lưới dài hơn 10 hải lý (trên 20km); rải hết lưới chuồn cũng mất gần 2 giờ đồng hồ. Sau bữa sáng là tới giờ thu lưới. Những con cá chuồn có đôi vây dài như đôi cánh, có thể bay lên khỏi mặt nước hàng chục mét, mắc đầy trong lưới sẽ là mồi để nhử những con cá bò gù háu ăn được gỡ ra, ướp đá dùng dần. Nhưng khi thu lưới chuồn, điều thú vị lại nằm ở những con cá khác mắc trong lưới; thường loài cá nóc gai mắc lưới nhiều nhất; "Đặc sản đấy anh ạ. Chỉ ra biển mới được ăn loại này". Những con cá nóc gai khi bị kéo lên khỏi mặt nước thì tự hít đầy không khí vào bụng, tròn căng như một trái bóng, giương đầy những chiếc gai nhọn hoắt sẵn sàng gây thương tích cho bất kì ai vô ý đụng phải chúng. "Bếp trưởng" Kim Đa dùng dao nhọn chọc thủng bụng để "tước vũ khí" của chúng rồi đem nướng trên bếp than cho đến khi nào cháy hết lớp gai bên ngoài thì thịt cũng vừa chín. Món cải thiện cho bữa trưa thường là những thứ như vậy.
Thả lưới chuồn mất 2 giờ thì thu lưới cũng mất 3 giờ. Sơ sơ đã vậy, còn việc chính là bủa câu và thu câu thì còn nhiều hơn. Bủa câu mất 2 giờ và thu câu mất chừng 5 giờ nữa. Thế mới thấy lao động trên biển vất vả như thế nào. Hơn nửa ngày làm việc liên tục dưới nắng, dưới mưa, sóng và gió. Thời gian còn lại là ăn, ngủ và các sinh hoạt khác. Tính ra mỗi ngày mỗi người đi làm trên biển ngủ không quá 5 giờ.
Việc bủa câu thường bắt đầu sau giấc ngủ trưa ngắn ngủi. Trên một sợi dây câu bằng cước dài chừng "hai mươi lý" (20 hải lý, tương đương gần 40km) to gần bằng chiếc đũa, có tới 500 lưỡi câu, mỗi lưỡi mắc vào một sợi cước nhỏ hơn một chút, dài khoảng 100m. Điểm nối của mỗi sợi cước này với dây câu có gắn một chiếc phao. Tất cả được thả bồng bềnh trên mặt biển. Hãy khoan nói tới hiệu quả của mỗi lần bủa câu, chỉ nguyên việc mắc mồi, thả dây, thu dây, mắc phao, gỡ phao... làm sao cho đồng bộ đã là cả một vấn đề đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng và chính xác đến từng động tác nhỏ. 9 sọt lớn đựng dây câu, 6 chùm lưỡi, hàng trăm chiếc phao các loại dần dần được rải ra trên biển và mất hút vào giữa những con sóng bồng bềnh, để lại trên tàu những ánh mắt tràn trề hy vọng...
“Thợ săn” và những con mồi
Đi câu cá bò gù, nhưng không phải chỉ có cá bò gù mắc câu mà rất nhiều loài khác nữa. Cái hấp dẫn của mỗi lần thu câu là ở chỗ đó. Khi sợi dây câu được thu về, thường là từ 7 giờ tối đến 12 giờ đêm, những chiếc lưỡi câu được kéo lên, bao nhiêu điều bí ẩn sau làn nước dần dần được sáng tỏ; cũng là lúc niềm vui và sự thất vọng đứng sắp hàng lần lượt...
Cá được xẻ thịt ướp đá. |
Con mồi đầu tiên mà chúng tôi săn được là một con mồi đáng giá. Con cá bò gù nặng gần 1 tạ mắc câu đang bơi thoăn thoắt dưới ánh đèn sáng rực, bị ghì vào mạn tàu. Với trọng lượng ấy thì sợi dây câu chẳng thấm tháp gì; nó chỉ có tác dụng như một sợi dây cương để giong con cá lại gần mà thôi. Để kéo được nó lên tàu, những "thợ săn" phải dùng đến một chiếc móc sắt to hơn ngón tay cái, dài gần 2m để hỗ trợ. Cái khó là không được để trầy xước da con vật nên chỉ được móc và phải móc đúng vào mang cá. Lên tới nơi phải dùng vồ gỗ đập vào giữa đỉnh đầu cho cá chết ngay; trước hết là để nó khỏi nhảy trở lại xuống biển, nhưng quan trọng hơn là như vậy thịt mới tươi và giữ được lâu; sau đó là động tác sơ chế: chặt vây, moi ruột, bóc mang rồi đem ướp đá. Đêm đầu tiên chúng tôi bắt được 2 con như vậy. "Cũng chưa phải là nhiều, đã có lần bọn em bắt được 5 con một lần thu câu như thế này". Có lẽ với những người "thợ săn" lão luyện thì chưa đáng kể gì; nhưng với tôi, lần đầu tiên nhìn thấy những con cá lớn như vậy không phải là không có ấn tượng. Và đêm đó, khi lang thang ra ngoài boong tàu, cứ nghĩ đến 2 con cá đang nằm lặng phắc trong khoang, mắt mở trừng trừng mà thấy rờn rợn. Cá như cũng có hồn...
Điều kỳ lạ và cám cảnh hơn có lẽ vẫn là chuyện con mồi của đêm hôm sau. Khi ấy tôi đang nằm ngủ thì Kim Đa chạy vào gọi giật: "Dậy ra xem, con này to lắm". Con mồi mắc câu đã kéo cả chiếc phao chìm xuống đáy biển. Đây là chiếc phao làm dấu. Cứ mỗi lưỡi câu là một phao, 25 chiếc phao nhỏ thì lại tới một chiếc phao lớn làm dấu. Chiếc phao này to cỡ quả bóng đá, được làm bằng thứ nhựa dày, chắc, có thể chịu được tải trọng từ 150 - 200kg; vậy mà nó kéo lút xuống nước tới mức... nổ vì không chịu nổi áp suất. Loay hoay tới gần 30 phút chúng tôi mới lôi nó lên tới tầng nước mà ánh đèn chiếu tới. Nhìn con vật to như chiếc giường đôi, bơi thư thái, uyển chuyển trong làn nước tím ngắt mà rợn tóc gáy. Đó là một con cá đuối loại lớn, rất ít gặp. Khi đã móc được móc sắt vào nó, tôi tưởng sắp được tận mắt chứng kiến một trong những loài quái vật của biển trong sự bất lực phô bày; nhưng ngờ đâu một "thợ săn" tiến lại dùng dao cứa đứt chiếc miệng vừa chớm nhô lên khỏi mặt nước để lấy lại chiếc lưỡi câu, sau đó lại thả nó về biển. - "Con này lớn vậy nhưng bán thì chỉ được 40 - 50 ngàn đồng là cùng, bắt lên chỉ tổ nặng tàu". Anh bạn nói giọng tiếc rẻ. Vậy là bữa đó "lỗ" mất chiếc phao...
Khi mà cảm giác lênh đênh đã trở thành thường trực thì người ta cũng bắt đầu không bận tâm đến nó nữa. Thói quen của dân biển đã thấm dần vào tôi lúc nào không hay. Đã bắt đầu quen với những bữa cơm vội vã, rặt một thứ gia vị là nước mắm và ớt. Cái màu xanh ngăn ngắt của nước biển cũng không còn vẻ nghi hoặc trong cảm nhận nữa mà thay vào đó là một sự chờ đợi, hy vọng. Giọng Phú Yên lúc thường nghe buồn da diết như sắp khóc, xuống biển bỗng trở nên thân thiết lạ lùng. Cũng đã thôi cái tư tưởng đếm ngược từng ngày để đợi hồi về lại đất liền. Chẳng phải là thêm yêu biển, cũng chẳng phải một niềm đam mê gì mới vừa xuất hiện, mà sự thực là chán nản; nản đến nỗi bất cần. Thôi thì phó mặc tất cả, buông xuôi tất cả... Được cái với cường độ làm việc như ở đây, ngày dường như cũng ngắn bớt lại... Đêm hôm đó, tôi chợt lạnh người khi dự báo thời tiết cho biết có áp thấp nhiệt đới, biển động tới cấp 6 ở ngoài khơi vĩ tuyến 17...
Phóng sự của Lương Ngọc An