“Chữ quốc ngữ (La tinh hoá) manh nha từ thế kỷ 17 được hoàn thiện và phổ cập thay thế chữ Nôm, chữ Hán, đã tạo thuận lợi cho người dân tiếp nhận rộng rãi văn hoá, văn chương mới trên sách báo mà nhà thơ Tản Đà là nhịp cầu nối xuất sắc giữa cổ điển và hiện đại. Nhờ kinh nghiệm 100 năm thơ Pháp mà thơ Việt Nam (Thơ Mới) đã hoàn thành công cuộc cách tân từ lãng mạn đến tượng trưng chỉ trong vòng 10 năm”. Nhà thơ Vũ Quần Phương (Chủ tịch Hội đồng Thơ Việt Nam) trong tham luận mở đầu đã khái quát những nét chính về tiến trình thơ Việt, chủ yếu là giai đoạn thơ hiện đại mở đầu bằng phong trào Thơ Mới.
Hai cuộc kháng chiến chống ngoại bang 1946-1954 và 1965-1975, thơ Việt đã tạo sức mạnh tinh thần cho cuộc kháng chiến. Phẩm chất trữ tình hẹp lại nhường chỗ cho bút pháp hiện thực và cổ động, hình thành nền thơ yêu nước. Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy là biểu tượng giai đoạn này. Ông không quên những nhà thơ sống trong vùng hậu địch và lãnh thổ VN cộng hòa, chắc chắn có sự đóng góp nhất định vào văn mạch dân tộc, nhưng chưa tập hợp được đầy đủ tác phẩm để nhận định rõ hơn những mạnh yếu cụ thể. Các thế hệ nhà thơ tiếp nối, bổ sung cho nhau: Thời kỳ đầu chống Pháp, khi các nhà thơ nổi danh thời Thơ mới còn lúng túng đổi thay bút pháp đã xuất hiện lớp nhà thơ con đẻ của giai đoạn ấy: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hữu Loan... Thời chống Mỹ, ông nhận xét xác đáng: Thơ kháng chiến miền Bắc hình thành hai mảng, mảng thứ nhất do các nhà thơ trẻ miêu tả cuộc chiến với những chi tiết sống động, chân thực, mảng thứ hai với tầm nhìn khái quát, thuộc các nhà thơ cha anh, họ đã thành danh từ Thơ Mới hoặc kháng chiến chống Pháp, những người đang cầm trịch nền văn chương miền Bắc. Hai mảng thơ này bổ sung cho nhau tạo nên khuôn mặt tâm hồn dân tộc trong chiến tranh khá chân thực và có tầm khái quát lịch sử.
Giai đoạn thống nhất và độc lập, phải đến Đổi Mới cuối thập niên 80, thơ Việt mới có thay đổi quan trọng: Quan tâm đến thân phận con người và tôn trọng hiện thực vốn có của đời sống, khen và chê đều cần thiết. Mọi phương pháp sáng tác đều được vận dụng. Do vậy đã tạo được bước tiến chân, thiện, mỹ cho cả nền thơ. Tuy nhiên, nhà bình thơ Vũ Quần Phương cũng lưu ý một vài nhược điểm của các nhà thơ trẻ, như nôn nóng vận dụng mọi phương pháp ngoại nhập, sự đổi mới thiên về hình thức có ít nhiều gây "sốc", chưa đề xuất được mô hình cái mới, còn ít tiếng dội của những sự kiện lớn, những mong mỏi cháy bỏng của nhân dân... Đó là phác thảo sắc sảo toàn cảnh tiến trình nền thơ Việt hiện đại, làm cơ sở cho công cuộc chuyển tải sang các ngôn ngữ khác.
Nhà thơ Thanh Thảo đã nêu lên sự cần thiết nhập cuộc của Hội Nhà văn và vài cách làm hữu hiệu: Lâu nay việc giới thiệu thơ Việt ra nước ngoài chủ yếu là những hoạt động tự phát hoặc thông qua cá nhân, một nhà xuất bản, hay một tổ chức liên hoan thơ quốc tế. Không chỉ ở VN, các nhà xuất bản trên thế giới đều ngại xuất bản thơ vì khó thu hồi vốn, nhưng họ vẫn làm vì cần thiết cho nhu cầu ngoại giao, như nhà thơ Hữu Thỉnh đã phát biểu nhân dịp này "Giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài chính là một hoạt động ngoại giao văn hoá!". Năm 1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton nói chuyện với sinh viên ta đã thu được thiện cảm không nhỏ khi ông ứng dụng câu Kiều: Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân. Tiếc rằng ông mới hiểu lần vỏ nghĩa mà không quan tâm đến văn cảnh (lúc Thúc Sinh buồn vì Kiều bị bắt).
Đã là công việc ngoại giao thì cần có ngân sách. Có tiền rồi mới chọn mặt gửi vàng, chọn được dịch giả xứng đáng để đầu tư. Cách làm theo nhóm, ông cho là tốt nhất. Mỗi nhóm từ hai đến ba người, trong nhóm ít nhất phải có một người Việt am hiểu thơ Việt và ngôn ngữ nước chuyển dịch, đơn cử nhóm nhà thơ Nguyễn Đỗ (đang sống ở Mỹ) và nhà thơ Mỹ Paul Hoover đang hoạt động khá thành công giới thiệu thơ Việt từ cổ đại tới đương đại ra tiếng Anh, xuất bản tại Mỹ. Các nhà xuất bản lớn thường có chi nhánh ở nhiều nước, một tập thơ Việt được dịch ra tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ sẽ nhanh chóng được tiếp nhận ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ và Australia. Phải hỗ trợ dịch giả tìm "đầu ra" ở các nhà xuất bản, tìm "đầu ra" khi sách in xong. Thanh Thảo lưu ý Hội một kênh quan trọng là các trường đại học Mỹ khi chính các sinh viên của họ có nhu cầu!
![]() Các nhà văn tại hội nghị |
Quan hệ dịch cả hai chiều đáng kể có lẽ là Ba Lan - Việt Nam, chúng ta đã biết nhiều tác phẩm Ba Lan (một cường quốc Nobel văn chương) do Lê Bá Thự dịch Pharaon, Quà của Chúa, Xin cạch đàn ông, thơ dịch của Tạ Minh Châu, hôm nay nhóm dịch giả Lâm Quang Mỹ và Pawel Kubiak vừa xuất bản Tuyển tập thơ Việt Nam từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19 bằng tiếng Ba Lan. 28 tác giả tiêu biểu cho nền thơ nước ta trong nhiều thế kỷ, mở đầu là Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Tiếp đến những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát... cả thảy là 115 bài thơ, 86 câu Chinh phụ ngâm và 256 câu Kiều cùng nhiều tranh ảnh minh họa. Dịch giả Lâm Quang Mỹ trích lời của nhà văn Ba Lan Andrzej Grabowski, Chủ tịch Hội nhà văn Ba Lan dưới tiêu đề Tiểu luận ngắn về những điều vĩnh cửu "...Càng làm quen với những người bạn Việt Nam, tôi càng nhận thấy rằng mối quan hệ giữa chúng ta được thắt chặt bởi thế giới quan giống nhau: nhạy cảm với thiên nhiên, lòng yêu cái đẹp, tôn trọng những giá trị mà thiếu chúng, con người không thể phát triển được, lòng yêu nước hơn cuộc sống của chính mình, kính trọng nền văn hoá và lịch sử của đất nước. Có nước nào trên thế giới có các tướng lĩnh - người bảo vệ Tổ quốc lại làm thơ?"
Những nhà thơ Việt ở hội trường không khỏi cảm kích khi nghe câu nói của nhà văn Ba Lan: "...tôi nhớ đến bài thơ rất xưa của Đạo Hạnh thiền sư, từ một ngàn năm trước:
...Cùng với sự thán phục, tôi nghiêng mình trước nền thơ cổ điển Việt Nam, đặc biệt là giai đọan khởi thuỷ của nó, trong đó con người được gieo trồng vào thiên nhiên, hòa vào nó làm một...".
Dịch giả Ba Lan Pavel Kubiak cũng phát biểu: "Sự thanh bình trong thơ cổ điển Việt Nam làm tôi thán phục" (trong hoàn cảnh luôn luôn phải chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và bản sắc dân tộc). Ông thừa nhận văn học cổ điển VN được lưu giữ từ thế kỷ 11 trong khi văn học cổ Ba Lan chỉ có từ cuối thế kỷ 15.
Nhà thơ Alex Fleites từ đất nước Cuba nhắc đến một truyện kể của José Marti - nhà thơ lớn của văn học Mỹ Latinh, tên truyện là Một chuyến du hành tới đất nước An Nam "trong nhiều thế hệ nó đã làm trẻ em Mỹ Latinh mơ tưởng đến một xứ sở tuyệt vời có những người dân chăm chỉ tài hoa luôn phải đương đầu với lòng thèm khát của các nước lân cận, "bởi vì các dân tộc nhỏ bé phải bỏ nhiều công sức ra mới sống được!" Marty kể rằng người An Nam mặc áo dài có màu sắc cạnh tranh với chất lượng ánh sáng. Như vậy, nhà trí thức thiên tài sinh ra ở hòn đảo Cuba đã dạy chúng tôi biết tôn trọng và đoàn kết với dân tộc mà giờ đây tiếp đón chúng tôi rất hảo tâm.
Nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng (Hội VHNTVN tại Liên bang Nga) thì nói điều không vui về số lượng các tác phẩm văn học VN được dịch và công bố tại Liên bang Nga chỉ đếm được trên đầu ngón tay, sau khi Liên Xô tan rã, khoảng trống của văn học VN rất rõ trên văn đàn Nga, nhà thơ giới thiệu những hoạt động tích cực của các nhà văn, nhà thơ Việt đang sinh sống bên đó.
Nhà thơ Hoàng Hưng (có công trong việc dịch nhiều thơ hiện đại thế giới cho VN) sau khi tái định cư ở TP. Hồ Chí Minh đã được mời ra tham luận.
Anh mong một điều mà chúng ta ai cũng mong muốn mà không dễ có: Thương hiệu cho văn học VN chỉ có được một khi có những tên tuổi đủ sức chinh phục công chúng thế giới. Sự độc đáo ấy phải mang một tư tưởng nhân văn cao sâu ở tầm nhân loại, phải là sản phẩm "3 trong 1" (cá nhân - dân tộc - nhân loại).
Cần phải có một tổ chức chuyên nghiệp, kiểu như NXB Thế giới đã làm ít nhiều với phần văn học cổ điển. Phải điều tra nắm được những gì bạn đọc nước ngoài muốn, chứ không phải chúng ta muốn, theo truyền thống nể nang, phong trào.
Bên cạnh đó, phương án tốt nhất là ủng hộ những cá nhân, những nhóm có đề án tốt, có năng lực thực sự, hiểu biết tâm lý người đọc nước ngoài. Tài trợ cho người dịch là rất cần thiết, vì lượng bản in khiêm tốn của tác phẩm VN khiến tác quyền cho người dịch khá thấp mà họ vẫn làm việc nhiệt tình vì nền văn học VN. Hoàng Hưng đề xuất lập một Quỹ văn học dịch VN là một Quỹ phi chính phủ, được Bộ Văn hóa và Hội Nhà văn bảo trợ. Quỹ này có thể xin tài trợ từ mọi nguồn (nhà nước, các đoàn thể, các nhà hảo tâm trong ngoài nước) xét duyệt tài trợ, trao thưởng những công trình có giá trị. Ông đã gợi ý cả tên quỹ từ câu thành ngữ đem chuông đi đấm nước người, thành tên Quỹ chuông văn học Việt (Vietlitbell Foundation).
Cuộc hội thảo còn nhiều ý kiến đóng góp của các nhà văn Mỹ, Ấn Độ, Philippin... về tình hình giao lưu văn học VN với các nước, người viết bài này chỉ giới thiệu những đề xuất mang tính khả thi.
Thi Nguyên
