Nhà thơ Hàm Anh, tên thật Phan Thanh Thủy, hiện đang sống và làm việc ở Ấn Độ. Chị được Trường Viết văn Nguyễn Du tuyển và gửi sang học khoa dịch thuật tại Trường Viết văn M. Gorki năm 1989. Các bản dịch thơ Anna Akhmatova của Phan Thanh Thủy đoạt giải B (không có giải A) cuộc thị dịch văn học do Hội Nhà văn Việt Nam và báo Văn nghệ tổ chức năm 1993-1994. Hàm Anh cũng dự phần vào đời sống thơ đương đại từ rất sớm. Thơ của Hàm Anh hàm súc, tự nhiên và nhiều ý vị. So với thơ trẻ đương đại, Hàm Anh có nhiều tìm tòi, vượt lên hẳn lối tư duy thơ văn xuôi thường thấy. Báo Sức khỏe & Đời sống trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Trịnh Lữ.
Hàm Anh Ngủ mưa em mưa cho anh ngủ ngoài kia đương mùa xuân những cây bàng trỗi lá xanh non đến ngại ngần em mưa cho anh ngủ mưa dịu vết thời gian mưa giăng mù thương nhớ mưa xanh anh dịu dàng... (Rút từ tập Màu tự nhiên) |
Ngoài kia, có nghĩa là cơn mưa hóa thân ấy là ở trong thế giới tâm linh của em, cái thế giới không dính dáng gì đến mùa xuân đang đến ở ngoài kia. Nếu chỉ đứng một mình với nhau thì năm chữ ngoài - kia -đương - mùa - xuân thật tầm thường, thậm chí sáo mòn. Nhưng khi xuất hiện như một tiếp nối của cơn mưa hóa thân trong câu thơ đi trước, chúng bỗng khiến cho thân phận của em hiển lộ đến rùng mình, mà không ồn ào cố ý gì cả, cứ tự nhiên như vậy thôi. Thế giới riêng của em lơ lửng theo 4 từ không dấu êm ái rồi rơi nhẹ nhàng xuống từ ngủ. Thế giới ngoài kia hiện ra bằng một âm trầm của từ ngoài, lên theo âm bổng kéo dài của hai từ kia và đương, xuống theo âm trầm nữa của từ mùa, rồi lại lên theo âm bổng của từ xuân. Phổ nhạc thật dễ dàng. Và người đọc bỗng thấy nao lòng như sóng gợn từ chuỗi âm thanh như sờ thấy lấy được ấy. Mà chữ đương mới lạ. Nếu dùng ‘đang’ thì cái thế giới xuân sắc ấy bẹt dí, trơ trẽn và bất động ngay lại. Từ ngữ có cuộc sống kỳ diệu đến thế. Âm sắc của chúng có hình thể và thần thái rõ rệt. Người viết nào may mắn có liên lạc bẩm sinh với trường hiện hữu rất cụ thể mà cũng rất siêu hình này của ngôn ngữ sẽ có cơ may biết được sự hiện hữu của chính mình.
Về âm điệu, những cây bàng trỗi lá đối xứng với ngoài kia đương mùa xuân ở đầu và cuối: thanh trắc của những đối xứng với thanh bằng của ngoài, và thanh trắc của trỗi lá đối xứng với thanh bằng của mùa xuân. Còn hai từ giữa câu đều ở thanh bằng. Cấu trúc âm thanh rất nhịp nhàng này làm cho những hình ảnh gợi nên bởi hàm nghĩa của các từ trong hai câu ấy sinh động và hài hòa với nhau. Cảm thức sinh động hài hòa ấy khiến cho cuộc hiệu hữu thông qua hình ảnh những cây bàng trỗi lá có một sức mạnh bí nhiệm, tự nhiên và bắt buộc phải thế. Và lạ nhất là chỉ nhờ vào một vài con chữ giản dị bình thường: trong lúc từ đương khiến mùa xuân sống dậy tế nhị và kín đáo, thì hai từ trỗi lá khiến cho sự thay da đổi thịt của những cây bàng lộ diện với đầy nỗi niềm. Và cái nỗi niềm còn có vẻ mông lung ấy hiện thêm ra trong câu thơ tiếp theo:
xanh non đến ngại ngần
Ai ngại ngần ở đây? Những nụ lá bàng? Cái thế giới ngoài kia? Hay là người xưng em đang viết bài thơ này? Thế còn cái người được gọi là anh thì sao? Người ấy đang ngủ, chắc thế, trong cái yên bình dịu dàng của làn mưa hóa thân kia, sao lại ngại ngần gì ở đây được! Ai? Ai là chủ thể mang nỗi niềm ngại ngần trong cái thế giới huyền ảo của cơn mưa và mùa xuân đang hiện hữu trong bài thơ này?
Nhưng ta hãy trở lại với những con chữ cụ thể. Hãy trở lại với bài thơ.
Ô, bây giờ thì người đọc biết rằng người xưng em ấy mưa cho người kia ngủ để làm gì. Chả cần phải giảng giải gì nữa. Mỗi người đọc sẽ có cách cảm nhận riêng của mình, đã đành rồi. Nhưng có lẽ ai cũng sẽ có cùng những ý nghĩ giống nhau khi đọc hai câu mưa dịu vết thời gian và mưa xanh anh dịu dàng. Câu thứ nhất khiến ta nghĩ rằng thời gian đã in hằn lên đâu đó và người làm mưa đang muốn xóa đi những vết hằn ấy. Câu thứ hai, cũng là câu kết của bài thơ, với ba dấu chấm lửng cuối cùng, rơi vào lòng người đọc thật nhẹ nhàng sâu lắng với cái nghĩa có tính liên kết tất cả những nỗi niềm của toàn bài lại với nhau: người đang ngủ ấy không có màu xanh, chắc phải là một cái gì đó héo hắt; thời gian đã hằn vết nhọc nhằn của cuộc nhân sinh nơi người ấy; và chính người ấy thấy ngại ngần với những trỗi lá khôn cưỡng của chính mình.
Toàn bộ bài thơ không có chữ nào viết hoa. Không có chấm, phẩy hoặc ký hiệu ngắt ý, ngắt câu nào. Những con chữ ấy đã cho người đọc trực cảm được với muôn vàn nỗi niềm của tình yêu. Cách gọi tên siêu hình này được thực hiện nhờ việc lựa chọn và sắp xếp các từ cụ thể căn cứ vào âm thanh và ý nghĩa của chúng. Mà âm thanh của từ tồn tại cả ở bản thân nó lẫn liên âm của nó với các từ xung quanh, ở âm điệu tạo nên bởi cách xâu chuỗi chúng với nhau. Và lạ hơn nữa, ý nghĩa và cảm xúc của từ ngữ tồn tại ở cả trong những hình ảnh rất cụ thể và cũng rất siêu hình mà âm thanh và ý nghĩa của chúng gợi nên với từng mô hình liên tưởng của người đọc.
Màu tự nhiên có ba bài về mưa, nhưng tôi thích bài Ngủ mưa này hơn cả. Mà cái đầu đề cũng lạ. Đọc xong bài thơ thì mới thắc mắc: ai ngủ, ai mưa, ngủ trong mưa hay là cơn mưa ngủ... Hình thức cổ điển, câu chữ bình thường giản dị, mà ý nghĩa và thi tứ vẫn mới lạ độc đáo. Hiện hữu là như vậy. Nó mới lạ ở chỗ được phát hiện và lộ diện như nó đúng thế, tự nhiên và lúc nào cũng như muốn ẩn mình, chứ không như ta muốn nó phải thế này hay thế kia, thậm chí bị ta cưỡng bức phải trình diễn với nhiều trang phục và đạo cụ.
Trịnh Lữ