LTS: Từ một giáo dân thời Pháp thuộc thành vị Thứ trưởng Bộ Văn hóa của nước Việt Nam độc lập , sự nghiệp của GS.TS.NSND Đình Quang bắt đầu và gắn liền với những bước thăng trầm của Cách mạng. Ông đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT và Huân chương Độc lập hạng Nhì cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Nhân những ngày tháng Tám lịch sử, chúng tôi xin giới thiệu trích đoạn hồi ức của ông…
NSND Đình Quang |
Khi còn sống, thầy tôi cũng có đôi lần kể cho nghe về phong trào Cần Vương, về cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng… nhưng nghe nó xa vời. Khi Nhật đảo chính, hất cẳng Tây, thành lập chính phủ Trần Trọng Kim, tôi cũng chẳng tìm hiểu kỹ tác dụng lợi hại ra sao…
Có lẽ điều gây cho tôi những ấn tượng sâu xa nhất lúc đó chính là vụ chết đói tháng ba. Hàng ngày, trông thấy đoàn người thất thểu từ Ninh Bình kéo vào ăn xin, xác chết nằm rải rác lề đường, nhặt không xuể…Tòa Giám mục tổ chức phát chẩn, nhiều người chưa kịp đưa cơm lên miệng thì đã gục xuống… Thuyết Đại Đông Á của Nhật và cuộc đảo chính hay đâu chẳng thấy, nhưng cứ bắt phá lúa trồng đay, đem thóc ra đổ biển khiến người chết đói như rạ thế này thì Nhật còn ác hơn Tây. Và tôi hăng hái chào mừng Cách mạng chỉ vì Cách mạng hô hào đánh Tây đuổi Nhật, không khí nô nức đông vui, còn hơn cả phong trào hướng đạo và tổ chức Jec mà tôi từng tham gia.
Tôi cùng khá nhiều bạn bè rủ nhau xin gia nhập vào lực lượng cảnh sát xung phong do các anh Nguyễn Thiệu, Hoàng Văn Tại, Nguyễn Tài Bồng và khi được đổi tên thành Công an do anh Nguyễn Hoàng phụ trách (khi kháng chiến bùng nổ, anh Hoàng lấy tên là Hoàng Đạo, được ta bí mật cử vào nội thành, đội lốt là một phần tử chống đối và được Bảo Đại mời làm cố vấn).
Cảnh sát xung phong rất được dân phố yêu mến vì trẻ, có học lại hăng hái ngày đêm tỏa ra các cửa ô, các ngã ba, công sở… để giữ gìn trật tự, không nề hà ngày đêm, mưa nắng. Bỗng chốc thành phố có cả một đội ngũ cảnh sát trẻ trung, lịch sự khác hẳn với hình ảnh của những lính cẩm ngày xưa. Nhiều lần thấy chúng tôi qua cửa, nhiều người chạy ra mời vào uống nước, thậm chí có khi thấy anh em đang đứng gác ở cột trụ ngã ba đường còn ghé lại mời điếu thuốc..
Có lẽ vì thấy tôi cũng khôi ngô, linh lợi nên mới nhập ngũ được nửa tháng đã được Ban chỉ huy cất lên làm tiểu đội trưởng dù tôi chẳng hề biết tí quân sự gì ngoài mấy khẩu lệnh nghiêm, nghỉ; vác súng cho oai chứ thật ra cũng chưa biết bắn như thế nào.
Những ngày đó, ở Hà Nội, các đảng Việt cách (Việt Nam cách mạng đồng minh hội), Việt quốc (Việt Nam quốc dân đảng) dựa vào thế lực của Tàu Tưởng thay mặt đồng minh sang Việt Nam giải giáp quân Nhật cũng ào ạt kéo về.
Một hôm, tôi được ban chỉ huy triệu lên, cho biết tin sẽ có một tốp Quốc dân đảng ngoài Hà Nội vào tăng cường, cần xác định thực hư, nhận diện chúng và mật báo cho Sở để có biện pháp đối phó trước khi chúng bắt được liên lạc với tổ chức của chúng.
Thoạt đầu, tôi cũng ngỡ ngàng, vì mình không có kinh nghiệm trinh sát gì đâu, lỡ ra có thể hỏng việc, nhung lại nghĩ bụng hay đây là một cuộc thử thách nên đành liều nhận.
Vốn có chút kinh nghiệm đóng kịch lửa trại, cũng đã đọc ít truyện trinh thám của Phạm Cao Củng và Thế Lữ…, tôi thắng bộ làm một công tử bột, nhân lúc giao thời, bỏ nhà đi phá giới. Thấy tôi có vẻ hào hoa phong nhã, có đôi chút bạt tử, chúng không cần giữ ý nên tôi phát hiện được chân tướng của chúng ngay và mật báo cho Sở. Sau này, tôi được biết trong tụi nó có một tên là Trưởng ban ám sát và tra tấn.
Không biết có phải vì kết quả của vụ này hay không nhưng sau đó một tuần, tôi được nâng cấp lên trung đội trưởng và được giao phụ trách đơn vị đón tiếp quân Tàu Tưởng thay mặt đồng minh vào tiếp quản trong thời gian quá độ.
Buổi đón ở nhà ga được tổ chức long trọng, có đủ các vị hữu trách và đại diện một số đoàn thể quần chúng của tỉnh. Đẹp nhất là đội thanh nữ. Chị em đều diện đồng phục váy đầm màu thẫm, sơ mi trắng nuốt, mũ ca lô xanh đội lệch, phấn sáp tươi xinh, trông như một dàn hoa…
Khi đoàn tàu vào đến sân ga, kèn trống nổi lên, đại diện của ta và chỉ huy của quân Tàu chưa kịp tiến lại chào và bắt tay nhau thì một số quân Tàu vàng, có lẽ vì không nhịn được, đã ùa nhảy xuống và chỉ kịp tụt quần, ngồi ngay lên các đường ray cạnh đó mà phóng uế. Chị em ta ngượng quá rú lên, vội chạy vào trốn trong ga… Không khí trang trọng của buổi lễ bị phá vỡ. Quân Tàu Tưởng chẳng dám trách gì…
Nghe nói quân Tàu xám ở Hà Nội là quân chính quy, có khá hơn. Còn lính Tàu vàng là quân địa phương thì ôi thôi... Sẵn tiền quan kim, chúng ra chợ vơ vét, sục ăn. Ngôn ngữ bất đồng, tiền nong không sòng phẳng. Lúc đầu, chị em tiểu thương còn e dè nhưng rồi những cuộc xô xát với lính Tàu vàng xảy ra như cơm bữa. Tàu vàng trú quân ở đâu thì đấy thành ổ rác…
Thuở đó, quân phục chưa được quy định nghiêm ngặt như ngày nay nên ngoài bộ quân trang cơ bản màu xanh lá bưởi được cấp, tôi được tự tô điểm thêm cho oai. Giày sắng đá, ghệt cao cổ, thắt lưng da to bản, brơten, bao súng lục… lúc nào cũng bóng lộn, khóa đồng lấp lánh, phù hiệu nhung đỏ, ca lô dạ thẳng nếp…
Nhiều lúc thắng bộ vào soi gương cũng tự thấy buồn cười, trông oai thế nhưng mặt thì non choẹt. Ra đường gặp chiến sĩ Vệ quốc hay anh em cảnh sát mình họ đều phải chào rất nghiêm chỉnh, nhưng đêm về cơ quan thì cũng ôm nhau lăn ra ngủ sàn và ăn thì chỉ có cơm chậu với độc muối vừng, cà khú…
Có đêm nằm thao thức, nghĩ bụng: người ta bảo Cách mạng đã tạo ra những cuộc đổi đời mà đối với tôi là một cuộc đổi đời thật.
Ngay chính mẹ tôi cũng ngạc nhiên. Đôi lần đi cùng ngoài phố, thấy nhiều chiến sĩ gặp tôi đều phải giơ tay chào, cứ nhìn tôi ngơ ngác, cứ tưởng như là con ai mà không phải con mình… và tôi cũng không biết giải thích thế nào mà chỉ biết cũng chào lại mọi người một cách trân trọng và nhìn mẹ tôi mỉm cười.
... Cuối năm 45, Công an Trung bộ mở lớp huấn luyện Trưởng ban Trật tự, tên gọi mới của Chánh phó Cẩm trước kia. Tôi cùng mấy người có văn hóa lại được cử vào học.
Giảng viên ngoài các anh Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh nói về đại cương đường lối Cách mạng, về chuyên môn là các anh Nguyễn Văn Ngọc, Trần Viết Châu, Hoàng Yến (sau này là nhà thơ và nhà viết kịch)… nội dung các bài giảng chủ yếu là về nghiệp vụ cảnh sát, luật vi cảnh… Học viên đều thuộc các sở thuộc Trung bộ và Tây Nguyên, đa số đều lớn tuổi hơn tôi nhiều. Có người trước đã là Phó Cẩm như bác Mận mà tôi vẫn gọi là ba Quảng Nam vì trông ông bệ vệ và đã có bụng. Chỉ có một anh ở Quảng Trị vào cỡ tuổi tôi là anh Hinh (sau này là nhà văn Thế Kỷ).
Lớp đóng ngay tại sân vận động Huế. Ngoài những ngày học nghiệp vụ chuyên môn ra, cứ cuối tuần lại có một buổi thực hành. Toàn lớp được rải ra khắp thành phố, thực tập nghiệp vụ cảnh sát. Một người trong lớp được chỉ định là Chỉ huy (như Chánh Cẩm) theo thứ tự lần lượt, tuần này là người lớn tuổi nhất và tuần sau là người ít tuổi nhất, cứ thế quay vòng.
Người đóng vai Chánh Cẩm thì được đi tuần tra bằng xe đạp, còn các học viên thì được phân công đứng gác các ngả đường. Cứ đến ngày thực hành, cả thành phố Huế đều ngạc nhiên, tò mò vì cảnh sát hôm đó sao đều lớn tuổi và có vẻ lịch sự thế.
Còn nhớ buổi tôi được đóng vai chỉ huy. Dân thành Huế cứ trố mắt nhìn, thấy cảnh sát đứng gác thì có tuổi mà tôi là chỉ huy thì sao lại trẻ măng như thế.
Theo quân phong quân kỷ, chỉ huy tới đâu, đội viên đứng gác phải răm rắp chào. Mọi người đều tưởng chắc tôi phải là Việt minh gộc đây… Nhất là vào buổi tan học, nữ sinh Đồng Khánh tràn ra đường như chim vỡ tổ, đều xinh như mộng, cứ bấm nhau nhìn tôi. Tôi cũng rất muốn liếc mắt nhìn họ nhưng lại phải lên gân, nhìn thẳng trước mặt không nháy mắt, dù bụng thì tiếc đứt ruột…
Đạp qua chỗ ba Quảng Nam đứng gác gần đó, tôi đành bù niềm tiếc nuối bằng cách đạp xe rất chậm. Theo quân lệnh, khi cấp dưới chào mà chỉ huy chưa kịp chào lại thì không được bỏ tay chào xuống. Tôi cứ giả vờ như đang bận suy nghĩ không trông thấy ông, mặc ông cứ phải đứng nghiêm chào như tượng gỗ, một lát tôi mới từ từ chào lại. Chị em lại càng phục…
Đội công an xung phong tại Quảng trường Ba Đình năm 1945. Ảnh: TL |
Tối đó, ba Quảng Nam nằm cùng phòng đã nhốt tôi lại, cho một trận mưa đòn yêu, rồi tuyên án không thèm gả con gái cho tôi nữa, khiến cả phòng được một trận cười thoải mái…
Sau này, mỗi khi nhớ lại những ngày đầu tham gia cách mạng mà người ta thường gọi là ngày hội quần chúng, đối với tôi, có lẽ là đúng như thế thật. Hiểu cách mạng thì ít và theo cách mạng vì do vui theo phong trào. Và quan trọng hơn chỉ vì Cách mạng đã đuổi Nhật đánh Tây.
Sau lớp học trở về, tôi được phân công là Bí thư phụ trách tư pháp công an vì Sở cứ tưởng là tôi đã được bồi dưỡng về lĩnh vực này. Thực ra tôi đã hiểu gì về luật pháp đâu mà chỉ là luật vi cảnh. Nhưng trên đã giao thì phải nhận.
Thời đó còn chưa có sự phân nhiệm chức năng rạch ròi giữa tòa án và công an, giữa luật hình và luật hộ. Đủ chuyện thưa bẩm, kiện cáo, trộm cắp, kể cả chuyện ngoại tình, xin ly hôn… chỉ trừ chuyện chính trị ra đều đưa tôi xử lý.
Những vụ tố giác về chuyện ngoại tình hay xin ly hôn, xô xát trong gia đình, tranh giành tài sản… tuy với tuổi tôi chẳng có kinh nghiệm gì nhưng còn dễ xử sự. Mình cứ lấy lòng thành ra khuyên răn. Có thể lời khuyên của mình đôi khi vu vơ, không sát thực tế, nhưng vì đương sự thấy mình còn trẻ nhưng có lòng nên cũng nghĩ lại mà bỏ qua cho nhau.
Cuộc kháng chiến ngày càng ác liệt. Anh em bạn bè ra trận cả. Tôi cũng quyết định xin thôi, dù biết việc mình đang làm cũng là bổ ích và cần thiết cho xã hội, nhưng khổ nỗi lại không hợp với cái tạng của mình. Năm 1947, tôi xin gia nhập bộ đội, làm cán bộ địch vận một thời gian ngắn rồi như một sự sắp đặt của số phận và do yêu cầu của Cách mạng, tôi chuyển sang làm văn nghệ cho tới ngày nay…
Hồi ức của NSND Đình Quang