Trong đó, nghiên cứu pha III ADAURA thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới chuyên môn quốc tế. Nghiên cứu đã công bố dữ liệu sống còn toàn bộ sau 8 năm theo dõi ở người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm có đột biến EGFR và đã được phẫu thuật.

Hội nghị Thế giới về Ung thư Phổi (WCLC 2026) diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc, đã thu hút hàng nghìn chuyên gia, bác sĩ lâm sàng và nhà nghiên cứu đến từ khắp nơi trên thế giới.
Gần 8/10 người bệnh còn sống sau 8 năm theo dõi
Mặc dù phẫu thuật là phương pháp điều trị quan trọng đối với bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm, nhiều người bệnh vẫn đối mặt với nguy cơ tái phát sau điều trị. Dữ liệu cập nhật từ nghiên cứu ADAURA, thử nghiệm pha III toàn cầu với thời gian theo dõi dài nhất từng được báo cáo đến nay, tiếp tục củng cố lợi ích sống còn dài hạn của điều trị bổ trợ sau phẫu thuật bằng hoạt chất osimertinib ở nhóm bệnh nhân có đột biến EGFR dương tính
Cụ thể, ở kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm người bệnh ung thư phổi giai đoạn II––IIIA có đột biến EGFR, phương pháp điều trị được nghiên cứu sau phẫu thuật giúp giảm 47% nguy cơ tử vong so với giả dược. Sau 8 năm, 74% người bệnh trong nhóm điều trị vẫn còn sống, so với 58% ở nhóm dùng giả dược.
Khi tính trên quần thể tất cả người bệnh đã tham gia nghiên cứu, phương pháp điều trị được nghiên cứu giúp giảm 48% nguy cơ tử vong so với giả dược. Sau 8 năm, gần 8 trong 10 người bệnh ở nhóm điều trị vẫn còn sống, so với hơn 6 trong 10 người ở nhóm dùng giả dược.
Kết quả này nhấn mạnh vai trò của xét nghiệm đột biến EGFR ngay từ khi chẩn đoán. Việc hiểu rõ đặc điểm của khối u có thể giúp bác sĩ và người bệnh lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp từ giai đoạn sớm, qua đó cải thiện kết quả điều trị lâu dài.
"Kết quả này cho thấy điều trị bằng hoạt chất osimertinib sau phẫu thuật giúp cải thiện khả năng sống còn của người bệnh ung thư phổi giai đoạn sớm có đột biến EGFR đã được phẩn thuật cắt bỏ khối u, dù có hay không hóa trị bổ trợ," Tiến sĩ, Bác sĩ Roy Herbst thuộc Trung tâm Ung thư Dartmouth cho biết. "Nghiên cứu cho thấy việc đưa thuốc nhắm trúng đích vào điều trị sớm có thể làm chậm bệnh tiến triển và giúp người bệnh sống lâu hơn. Đây là tin vui cho người bệnh."

Nghiên cứu ADAURA cho thấy tín hiệu tích cực trong điều trị ung thư phổi.
Mở thêm hy vọng cho người bệnh ung thư phổi tại Việt Nam
Ung thư phổi hiện vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong do ung thư cao tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Một trong những thách thức lớn nhất là phần lớn bệnh nhân được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, làm giảm cơ hội điều trị hiệu quả.
BS.CKII Nguyễn Thị Oanh, Phó trưởng khoa Ung bướu 1, Bệnh viện Phổi Trung ương, nhận định: "Dữ liệu theo dõi 8 năm từ nghiên cứu ADAURA bổ sung thông tin về kết quả sống còn dài hạn của điều trị bổ trợ bằng hoạt chất osimertinib ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm có đột biến EGFR trong quần thể nghiên cứu. Khi xem xét cùng các bằng chứng hiện có, những kết quả này hỗ trợ hiệu quả cho những thảo luận chuyên môn về vai trò của xét nghiệm và việc lựa chọn phương án điều trị sau phẫu thuật phù hợp với đặc điểm lâm sàng của từng người bệnh."
Bên cạnh nỗ lực của đội ngũ y tế, việc tăng cường tiếp cận các công nghệ xét nghiệm và các tiến bộ điều trị mới cũng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao kết quả điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi tại Việt Nam.
Ông Atul Tandon, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc AstraZeneca Việt Nam, chia sẻ: "Những tiến bộ khoa học đang góp phần thay đổi cách tiếp cận điều trị ung thư phổi trên toàn cầu. AstraZeneca cam kết tiếp tục đồng hành cùng đơn vị chức năng, các hội chuyên ngành và cộng đồng y khoa trong nỗ lực nâng cao nhận thức về phát hiện sớm, chuẩn hóa xét nghiệm sinh học phân tử và mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp điều trị tiên tiến cho người bệnh tại Việt Nam, đặc biệt là người bệnh ung thư phổi.
AstraZeneca tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe phổi.
Kết quả từ nghiên cứu ADAURA cho thấy cơ hội sống còn dài hạn cho bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm có đột biến EGFR đang được cải thiện. Đối với Việt Nam, ý nghĩa của những dữ liệu này không chỉ nằm ở một lựa chọn điều trị tiên tiến, mà còn ở việc khẳng định vai trò của phát hiện sớm, xét nghiệm sinh học phân tử ngay từ khi chẩn đoán và điều trị cá thể hóa. Khi ngày càng nhiều bệnh nhân được tiếp cận các biện pháp chẩn đoán và điều trị phù hợp, triển vọng cải thiện kết quả điều trị cho người bệnh ung thư phổi tại Việt Nam sẽ tiếp tục được mở rộng.
Ngân Nguyễn