Hôm nay, anh lại trở về đây cũng vào dịp Tết Nguyên đán. Cũng chính nơi này cách đây 30 năm, sân trạm y tế ngày xưa chỉ là một mảnh đất lồi lõm. Ngôi nhà được chia làm hai cách ngăn bằng một tấm liếp mỏng, một phòng cho bác sĩ nghỉ ngơi sinh hoạt, một phòng làm nơi khám bệnh, đỡ đẻ, cấp thuốc. Anh đã sống và đã làm tất cả mọi thứ trong căn phòng tồi tàn ấy. Đêm không có điện, ngọn đèn dầu tờ mờ sáng hơn lên nhờ đôi mắt của người thầy thuốc trẻ miền xuôi. Nơi này đã bao nhiêu phụ nữ đến và cho ra đời những sinh linh bé nhỏ. Hầu hết họ còn không nói được tiếng Kinh. Những bà mẹ trẻ xơ xác và đen đúa sao lại mạnh mẽ dẻo dai đến lạ kì, họ vượt đèo vượt núi để đến trạm y tế. Dù muộn màng, lả đi vì mệt và đau đớn, vậy mà họ đã vượt qua để duy trì giống nòi. Bản năng sinh tồn trong điều kiện khắc nghiệt được thể hiện rõ hơn bất cứ lúc nào. Khi gặp những ca bệnh lạ mà sách vở hiện đại, nơi giảng đường đại học vẫn còn chưa rõ, những lúc thiếu thuốc, nhìn người bệnh rét run anh mới cảm thấy thấm thía sự bất lực của một con người bé nhỏ trước hoàn cảnh. Thế rồi anh cũng đã đi qua. Với sự giúp đỡ của anh, người dân nơi đây đã biết tìm về nơi có thể chăm sóc cho họ lúc đau đớn, lúc bệnh bạo. Từ kiến thức sách vở lý thuyết, anh đã biết đưa những người dân đến với vệ sinh nhà cửa, vệ sinh nguồn nước. Những đứa trẻ đã biết xỏ đôi dép, tấm áo khi ra đường. Tấm áo choàng trắng đã đến với người Thái, người Mường bằng một hình ảnh đầy tình thương đồng loại như thế.
Nhớ lại khi hai mẹ con người Thái đến trước cửa trạm y tế, họ ngập ngừng nói được hai tiếng “cám ơn”. Họ đã vượt suối vượt núi cả ngày đường để đến đây, để nói lời cảm ơn giản dị như thế. Chỉ hơn một tháng trước, chính trên con đường mà họ đã đi qua, anh đã đến với họ và cứu sống một con người, một người chồng, một người cha. Hủ tục lạc hậu và những hạn chế kinh tế đã giết chết bao nhiêu con người như thế. Từ khi có thấy thuốc, thầy giáo miền xuôi đến đây, họ đã có thêm hy vọng. Ánh lửa ngành y đã soi sáng rõ hơn cuộc đời của họ, đã mang lại niềm hạnh phúc dù rất nhỏ nhoi cho họ.
Một ngày mùa xuân, khi đang vui vẻ bên ánh lửa gia đình bác Páo, có tin báo có cướp khống chế bắt cả nhà một người Mường. Nó có súng, có dao, ngôi nhà lại ở đỉnh núi heo hút. Công an huyện không biết làm thế nào để tấn công. Nó chỉ đồng ý cho “bác sĩ” lên. Thế là y tế “lại lên ngôi”. Mặc áo choàng trắng, vai đeo túi thuốc trèo lên những bậc đá trơn trượt, hơi lạnh từ đá núi, cây rừng buốt thế mà mồ hôi túa ra ướt đẫm cả người. Lúc gặp tên cướp cũng sợ lắm, vậy mà không hiểu sức mạnh nào mà giúp được chàng trai Hà thành nhỏ bé, thư sinh vượt qua khoảnh khắc như thế. Bằng nhiều cách, vừa thuyết phục, vừa khôn khéo đánh lạc hướng để công an áp sát, anh đã giúp các anh tóm được tên cướp, giữ an toàn cho cả gia đình. Đến khi tên cướp bị công an trói chặt giải đi, anh vẫn còn chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra, anh Thành công an huyện phải lắc lắc mấy lần mới lắp bắp nói được vài câu.
Từ ngày Đề án 1816 triển khai, anh đã cùng bao đồng nghiệp đi đến khắp các miền quê của đất nước. Từ mảnh đất phèn chua miền biển hay khô cằn nơi vùng núi miền Trung, mỗi vùng đất anh đi qua đều để lại những kỷ niệm vô cùng đẹp đẽ và những đóng góp thầm lặng của những người thầy thuốc. Với anh, suốt cuộc đời này, có lẽ “thầy thuốc trẻ miền xuôi” là từ đẹp đẽ nhất mà anh được nhân dân gọi ngày nào trên vùng cao thủa ấy.
ThS. Nguyễn Vĩnh