Thành phố không khói thuốc: Vẫn còn khoảng cách từ đồng thuận đến hành động

Y tế
SKĐS - Kết quả nghiên cứu tại Hà Nội và Vĩnh Phúc cho thấy mức độ đồng thuận với quy định cấm hút thuốc trong nhà tại nhà hàng, quán cà phê, khách sạn khá cao.


Tuy nhiên, việc hiểu đúng quy định, biết cách báo cáo vi phạm và thực thi tại cơ sở vẫn còn hạn chế. Đáng chú ý, kết quả đo nicotine cho thấy khói thuốc vẫn hiện diện tại gần một nửa số cơ sở được khảo sát, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nhận thức, sự đồng thuận và hành động thực tế.

Đồng thuận cao nhưng chưa đồng nghĩa với sẵn sàng hành động

Khói thuốc thụ động không chỉ là vấn đề của người hút mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến những người xung quanh. Theo tài liệu nghiên cứu, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhấn mạnh không có mức phơi nhiễm khói thuốc thụ động nào là an toàn. Khói thuốc thụ động có thể gây bệnh tim mạch, ung thư và nhiều bệnh khác.

Tại Việt Nam, hút thuốc lá hiện là yếu tố nguy cơ thứ hai gây tử vong sớm và bệnh tật có thể phòng ngừa được. Năm 2021, ước tính có hơn 84.500 ca tử vong do hút thuốc chủ động và khoảng 18.800 ca tử vong do hút thuốc thụ động. Tổng chi phí y tế do hút thuốc tại Việt Nam năm 2022 được ước tính khoảng 108.000 tỷ đồng, tương đương 1,14% GDP.

Trong bối cảnh đó, xây dựng môi trường không khói thuốc được xem là một biện pháp can thiệp hiệu quả về chi phí. Điều 8 Công ước khung của WHO về kiểm soát thuốc lá khuyến nghị loại bỏ việc tiếp xúc với khói thuốc tại nơi làm việc trong nhà, phương tiện giao thông công cộng, nơi công cộng trong nhà và các địa điểm công cộng khác. Theo WHO, đến năm 2023 đã có 74 quốc gia triển khai môi trường không khói thuốc một cách toàn diện.

Thành phố không khói thuốc: Vẫn còn khoảng cách từ đồng thuận đến hành động- Ảnh 1.

Đại diện nhóm nghiên cứu Trường Đại học Y tế Công cộng công bố kết quả nghiên cứu tại hội thảo. Ảnh: Thái Bình

Tại Việt Nam, các quy định về môi trường không khói thuốc đã được cụ thể hóa trong Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và các văn bản hướng dẫn. Theo Thông tư số 11/2023/TT-BYT, nhà hàng, quán cà phê phải cấm hút thuốc hoàn toàn tại các khu vực trong nhà; không bố trí nơi hút thuốc riêng. Khách sạn cấm hút thuốc trong nhà nhưng có thể bố trí nơi dành riêng cho người hút thuốc nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về phòng, hệ thống thông khí tách biệt, dụng cụ chứa tàn thuốc, biển báo và thiết bị phòng cháy, chữa cháy.

Tuy nhiên, nghiên cứu "Thành phố không khói thuốc" - thực trạng tuân thủ môi trường không khói thuốc tại nhà hàng, quán cà phê, khách sạn và định hướng can thiệp do nhóm nghiên cứu Trường Đại học Y tế Công cộng thực hiện và công bố tại hội thảo kỹ thuật "Hiệu quả ban đầu của quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu" diễn ra ngày 29/9 cho thấy việc thực hiện những quy định này tại các cơ sở vẫn chưa đồng đều.

Nghiên cứu được triển khai tại Cầu Giấy (Hà Nội) và Vĩnh Phúc với khảo sát định lượng, định tính và đo nồng độ nicotine tại các nhà hàng, quán cà phê, khách sạn và một số loại hình cơ sở khác. Tổng số mẫu định lượng là 348 cơ sở, cùng 35 cuộc phỏng vấn định tính và 186 lượt đo nồng độ nicotine.

Kết quả quan sát cho thấy nhiều cơ sở đã triển khai một số biện pháp thực hiện quy định như treo biển cấm hút thuốc, không bày bán thuốc lá và yêu cầu khách hàng đang hút thuốc dừng lại. Tuy nhiên, khách hàng vẫn ghi nhận tình trạng vi phạm tại những nơi không được phép hút thuốc.

Điều đáng chú ý là sự đồng thuận với quy định cấm hút thuốc trong nhà tương đối cao ở cả nhóm quản lý và khách hàng, trên 75%. Nhiều người cũng cho rằng việc thực hiện quy định là khả thi. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng thực thi thấp hơn đáng kể, đặc biệt ở nhóm khách hàng, với tỷ lệ dưới 40% trong các nhóm được khảo sát.

Kết quả này cho thấy một khoảng cách đáng lưu ý: ủng hộ quy định chưa đồng nghĩa với sẵn sàng hành động để thực hiện quy định.

Thông điệp về môi trường không khói thuốc cần được truyền đạt cụ thể theo từng loại hình cơ sở

Một trong những vấn đề được nghiên cứu chỉ ra là nhận thức về quy định, hình phạt và cách báo cáo vi phạm còn hạn chế ở cả người quản lý cơ sở và khách hàng.

Tỷ lệ người biết rõ quy định cấm hút thuốc, biết hình phạt khi vi phạm và biết cách báo cáo khi phát hiện vi phạm đều chưa cao. Đáng chú ý, kiến thức về cơ chế báo cáo vi phạm còn rất thấp ở cả hai nhóm.

Mức độ hiểu đúng quy định cũng khác nhau tùy loại hình cơ sở. Khách sạn có tỷ lệ hiểu đúng cao hơn, trong khi căng tin khu công nghiệp là loại hình có tỷ lệ hiểu đúng thấp nhất. Đối với nhà hàng, quán ăn, quán cà phê và căng tin khu công nghiệp, quy định là cấm hút thuốc hoàn toàn trong nhà. Trong khi đó, khách sạn cấm hút thuốc trong nhà nhưng có thể có nơi dành riêng cho người hút thuốc nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.

Thực tế này cho thấy thông điệp về môi trường không khói thuốc cần được truyền đạt cụ thể theo từng loại hình cơ sở, thay vì chỉ sử dụng một thông điệp chung.

Bởi nếu người quản lý chưa hiểu đầy đủ quy định hoặc nhân viên không biết phải xử lý thế nào khi khách hút thuốc, thì ngay cả khi cơ sở có biển cấm, việc thực thi vẫn khó đạt hiệu quả.

Một số lỗi thường gặp được nghiên cứu ghi nhận cũng cho thấy khoảng cách này. Có nơi treo biển cấm hút thuốc nhưng biển nhỏ, đặt ở vị trí khó nhìn; có biển cấm nhưng trên bàn vẫn đặt gạt tàn; nhân viên nhìn thấy khách hút thuốc nhưng ngại nhắc nhở. Một số cơ sở chỉ chú ý đến thuốc lá điếu mà bỏ qua thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; hoặc chưa gắn quy định không hút thuốc với quy trình an toàn phòng cháy, chữa cháy.

Thành phố không khói thuốc: Vẫn còn khoảng cách từ đồng thuận đến hành động- Ảnh 2.

Nghiên cứu cũng chỉ ra một số lỗi thường gặp trong thực hiện môi trường không khói thuốc. Ảnh: Thái Bình

Từ "có biển cấm" đến một môi trường thực sự không khói thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở việc thiếu thông tin. Một bộ phận người quản lý và khách hàng chưa hiểu đúng quy định; cơ chế báo cáo vi phạm chưa rõ; việc thực thi tại cơ sở chưa nhất quán và còn thiếu sự hỗ trợ từ bên ngoài.

Ở góc độ người quản lý, một trong những rào cản phổ biến là người hút thuốc không biết hoặc chưa nắm rõ quy định cấm hút thuốc. Bên cạnh đó là sự phản đối từ khách hàng và nguy cơ mất khách. Với khách hàng, những rào cản nổi bật liên quan đến nhận thức, quan điểm và thói quen cá nhân; tiếp đến là việc nhân viên thiếu kỹ năng thực thi quy định.

Như vậy, xây dựng thành phố không khói thuốc không thể chỉ dừng ở việc treo thêm những tấm biển "Cấm hút thuốc".

Theo nhóm nghiên cứu, các can thiệp cần được thiết kế theo hướng đa thành phần, kết hợp truyền thông rõ ràng, ngắn gọn theo từng loại hình cơ sở; tăng các biện pháp thực thi hữu hình tại cơ sở; đồng thời củng cố cơ chế giám sát, nhắc nhở và phản ánh vi phạm.

Những giải pháp đơn giản nhưng dễ nhìn thấy, dễ thực hiện và dễ giám sát như biển báo rõ ràng, quy trình nhắc nhở thống nhất, hướng dẫn xử lý vi phạm và đầu mối báo cáo cụ thể cần được ưu tiên.

Đồng thời, cách tiếp cận cũng cần tính đến sự khác biệt giữa người quản lý và khách hàng. Người quản lý cần những công cụ thực thi khả thi; trong khi khách hàng cần được hỗ trợ để chuyển từ thái độ ủng hộ sang sẵn sàng hành động khi chứng kiến vi phạm.

Thành phố không khói thuốc: Vẫn còn khoảng cách từ đồng thuận đến hành động- Ảnh 3.Thuốc lá điện tử: Tỷ lệ sử dụng trong giới trẻ giảm, nhưng mua bán vẫn tìm cách 'ẩn mình'

SKĐS - Sau khi quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có hiệu lực từ ngày 1/1/2025, tỷ lệ sinh viên 18-24 tuổi sử dụng thuốc lá điện tử giảm còn 3,3%, thấp hơn so với mức 7,3-13,2% trong các khảo sát trước đây.

Ý kiến của bạn