Thăng trầm đường đi tới

Thời sự
Vinh quang thì nhiều, trăn trở, thất bại cũng không ít nhưng vượt qua chặng đường đó hẳn tập thể các nhà khoa học ở IVAC đã phải huy động cả sức,

Vinh quang thì nhiều, trăn trở, thất bại cũng không ít nhưng vượt qua chặng đường đó hẳn tập thể các nhà khoa học ở IVAC đã phải huy động cả sức, trí, tâm và cả ý chí vươn lên để ngày hôm nay họ được Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý - Huân chương Độc lập hạng Ba. Bên cạnh đó, lòng tin của ngành, của nhân dân vào chất lượng vaccin mang chữ IVAC thực sự là phần thưởng vô cùng quý giá mà các nhà khoa học đã hy sinh rất nhiều mới có được.

Câu chuyện ba mươi năm trước

Ba mươi năm trước, một Quyết định của Bộ Y tế sáp nhập ba đơn vị sản xuất của ba viện: Viện Vệ sinh dịch tễ Hà Nội, Viện Paster TP. Hồ Chí Minh và Paster Nha Trang vào Viện Paster Đà Lạt đã khai sinh ra Viện Vaccin với ba cơ sở: cơ sở chính tại thành phố Nha Trang, cơ sở II ở Đà Lạt và Trại chăn nuôi Suối Dầu. Lúc ấy đất nước mới thống nhất được hơn ba năm. Cái non trẻ và mới mẻ của một viện nghiên cứu khoa học nằm trong niềm vui chung của dân tộc, của đất nước. Đội ngũ thủa ban đầu ấy là những nhà khoa học, bác sĩ từ Hà Nội vào, là những dược sĩ, bác sĩ từ Sài Gòn lên. Nhiều cán bộ trong Viện vẫn nhắc những cái tên DS. Âu Văn Rép, DS. Nguyễn Thị Mỹ Thanh, DS. An Ngọc Kim Minh Trang, BS. Nguyễn Lưu Thị Mỹ với tình cảm yêu quý và kính trọng. Không đơn thuần chỉ bởi họ là những người trong đội ngũ “khai thiên lập địa” của Viện mà bởi họ là những trí thức của chế độ Sài Gòn những năm trước, không rời bỏ Tổ quốc và gắn bó với Viện dù biết trước có muôn vàn khó khăn.

 Nghiên cứu sản xuất vaccin theo công nghệ hiện đại tại Viện Vaccin và sinh phẩm y tế Nha Trang.
 
Ba mươi năm đã qua, đồng hành cùng với ngành, với đất nước, Viện vaccin non trẻ ngày ấy nay đã trở thành một viện khoa học hoành tráng với đội ngũ nhà khoa học đông đảo, giỏi giang và tâm huyết. Ban đầu, các sản phẩm của Viện vỏn vẹn có vaccin tả, lao, uốn ván và kháng huyết thanh thô phòng bach hầu - uốn ván, vaccin dịch hạch và BCG chết với kiểu đóng gói đơn giản, thô sơ. Đến năm 1991, Viện sản xuất thành công vaccin DPT tinh chế hấp phụ bằng hệ thống lên men sinh học hiện đại với sản lượng không ngừng gia tăng; vaccin BCG sống đông khô có chất lượng ổn định, đáp ứng đủ nhu cầu trong nước; vaccin dại đông khô. Riêng kháng huyết thanh, Viện là nơi cung cấp đủ cho nhu cầu trong cả nước Sat và SAD, sau đó là SAV cùng nhiều loại huyết thanh chẩn đoán bệnh đường ruột. Dù chưa đa dạng chủng loại, chưa nhiều về số liều và doanh số nhưng ở vào thời điểm đó với cơ sở, trang thiết bị không phải là hiện đại mà đã đảm đương cung cấp số vaccin tương đối đủ cho nhu cầu, có chất lượng ổn định để thay thế từng phần vaccin nhập ngoại đã là thành tích đáng kính nể của tập thể Viện.

Nhớ về những năm tháng đã qua, về những nỗ lực của các nhà khoa học trong sự nghiệp nghiên cứu và sản xuất vaccin, TS. Lê Văn Hiệp - Viện trưởng, một nhà khoa học trẻ từ Hà Nội vào những ngày đầu thành lập không khỏi tự hào. Ông nói cái may mắn nhất của Viện và những người như ông là đã được sống trong một tập thể có sức gắn kết chặt chẽ và có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương nơi các cơ sở của Viện tọa lạc. Hơn hết, ông luôn nhắc đến những người thầy, người anh, chị đi trước, các vị Viện trưởng tiền nhiệm: PGS. TS. Đoàn Xuân Mượu, GS. TSKH. Đặng Đức Trạch, GS.TS. Hạ Bá Khiêm, TS. Nguyễn Hồng Điệt và GS. TS. Nguyễn Thị Kê bởi chính những nhà khoa học ấy đã dùng tâm, trí của mình đặt những viên gạch xây nền móng cho những thành tựu hôm nay.

Hai trong một

Không dừng ở sản xuất, phát triển vaccin, với quan điểm “khoa học công nghệ phải có sản phẩm phục vụ đời sống”, các nhà khoa học của IVAC đã nghiên cứu và cho ra đời các chế phẩm sinh học đầu tiên trên thị trường dược phẩm Việt. Biosubtyl (men tiêu hóa), oresol, interferon, collivac (chất sinh học collagen nguồn gốc từ hải sản), tuberculin P.P.D đông khô tiêm trong da, IVAC Feron (chế phẩm Interferon a-2b sản xuất ở dạng thuốc nhỏ mũi theo công nghệ sinh học phân tử kỹ nghệ gen tái tổ hợp) lần lượt có mặt trên thị trường và khẳng định vị trí. Đặc biệt, Viện còn sản xuất thành công một số thực phẩm chức năng như chitovac chiết xuất từ vỏ tôm cua hay viên glusivac. Việc sản xuất dường như đã trở thành một nhiệm vụ thứ hai, song hành cùng nghiên cứu và sản xuất vaccin của Viện.

Con đường gập ghềnh.

Ba mươi năm - một quãng thời gian chưa phải là dài nhưng cũng đủ để thử thách, nhất là đối với công tác khoa học. Không phải lúc nào con đường đi của tập thể cán bộ Viện Vaccin và các chế phẩm sinh học Nha Trang cũng sóng yên biển lặng. 2002 có thể nói là một năm hạn nặng đối với Viện. Tháng 4 năm ấy, những thông tin về vụ tai biến do tiêm vaccin của IVAC làm cán bộ Viện mất ăn mất ngủ. Số là theo tính toán, mỗi năm cả nước cần khoảng 9 triệu liều vaccin DPT. Trong đó IVAC có trách nhiệm sản xuất một nửa, nửa còn lại do UNICEF viện trợ. Chẳng hiểu sự cố gì mà lô vaccin nhập về Việt Nam cuối năm 2001 để chuẩn bị triển khai cho 2002 lại bị kết tủa nên đã ảnh hưởng đến kế hoạch tiêm chủng cho trẻ em. IVAC được Chương trình tiêm chủng yêu cầu bổ sung khẩn cấp 2 triệu liều ngoài kế hoạch. Với hệ thống hiện có, con số này quả là không dễ dàng. Thế nhưng, không vì khó mà không cố gắng, lô hàng vẫn được sản xuất với quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt, đáp ứng đúng yêu cầu kỹ thuật. Một phần của số vaccin ấy (thuộc lô sản xuất 139) được đưa về tiêm chủng cho trẻ em ở TP. Hồ Chí Minh. Thông tin về một em bé đã tử vong sau khi tiêm đã gây xôn xao dư luận. Các nhà khoa học của Viện phải về ngay thành phố để cùng các cơ quan chức năng xem xét xác định nguyên nhân. Cho dù sau đó, cái chết của em bé được xác định không phải do chất lượng vaccin mà là do bị ngạt khi bú mẹ nhưng lô hàng đó mãi mới được minh oan. Vụ việc ấy chưa hoàn hồn thì liên tiếp thông tin tám em nhỏ ở quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh bị tai biến do tiêm vaccin của Viện lại làm cho cả tướng lẫn quân của Viện chao đảo.

Trên thế giới, trong tất cả các y văn cổ cũng như kim đều có ghi tỷ lệ tai biến trong và sau khi tiêm vaccin. Điều đó có nghĩa là sẽ có một vài trường hợp có thể gặp tai biến trong hàng triệu người tiêm nhưng chỉ một trường hợp xảy ra là người bệnh thiệt thòi, là đau đớn và nhà sản xuất sẽ... “đi”. Lô vaccin thứ hai bị ngừng sử dụng. Ngay thời điểm đó, Viện chủ động ngưng tiêm vaccin này ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước. “Lúc đó, chúng tôi chỉ nghĩ làm cách nào để phát hiện điểm yếu trong dây chuyền sản xuất để đảm bảo an toàn nhất cho cộng đồng” – PGS.TS. Lê Văn Hiệp nhớ lại.

Hội đồng khoa học của Bộ Y tế đã tiến hành nhiều bước kiểm tra nghiêm ngặt và xác định, lô vaccin đó đạt tiêu chuẩn theo mức cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tám trường hợp tai biến là do tiêm cùng một lọ vaccin đã bị kết tủa do lỗi... bảo quản. Tập thể IVAC ngưng sản xuất và cùng nhau kiểm điểm. Lỗi đã được tìm thấy. Đó là bởi lô vaccin này được sản xuất trên một dây chuyền đã... lỗi thời mà Viện chưa có kinh phí để thay thế. Cái dây chuyền cũ ấy gây những lỗi kỹ thuật mà nhà sản xuất không lường hết được. Và cũng bởi thế, những yêu cầu đầu tư cho công nghệ, cho dây chuyền hiện đại được đặt trên bàn lãnh đạo viện cho dù chưa biết tìm nguồn ở đâu.

Vấp ngã và đứng dậy – đó là triết lý cho những người vững vàng. IVAC cũng vậy. Dừng toàn bộ dây chuyền sản xuất lạc hậu có trên Đà Lạt, chỉ sản xuất vaccin trên dây chuyền mới ở Nha Trang và xoay xở để đảm bảo sản xuất 4,5 triệu liều DPT đạt chất lượng và an toàn phục vụ nhân dân. Thế mới biết, thách thức chẳng qua là để người ta vượt qua.

Hội nhập cũng có nghĩa là hiệu quả

Các thành tích đã đạt được

        Đảng bộ (Nha Trang) và chi bộ (Đà Lạt) nhiều năm liền đạt danh hiệu “Trong sạch, vững mạnh”.
Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản Viện đạt cờ “Thi đua xuất sắc” hàng năm.
         Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1992), hạng nhì (1996) và hạng Nhất (2003).
        Nhiều bằng khen của Chính phủ, UBND tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Trung ương Đoàn, Bộ Y tế cho cá nhân và tập thể của Viện...
        Kỷ niệm chương bạc của UNICEF năm 2001.
       Giải thưởng Kovalepskaia và Vi Fotech cho các công trình nghiên cứu khoa học năm 1996.
        Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba (2008).

Các thành tích đã đạt được

        Đảng bộ (Nha Trang) và chi bộ (Đà Lạt) nhiều năm liền đạt danh hiệu “Trong sạch, vững mạnh”.
Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản Viện đạt cờ “Thi đua xuất sắc” hàng năm.
         Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1992), hạng nhì (1996) và hạng Nhất (2003).
        Nhiều bằng khen của Chính phủ, UBND tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Trung ương Đoàn, Bộ Y tế cho cá nhân và tập thể của Viện...
        Kỷ niệm chương bạc của UNICEF năm 2001.
       Giải thưởng Kovalepskaia và Vi Fotech cho các công trình nghiên cứu khoa học năm 1996.
        Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba (2008).

Đã hơn 6 năm qua nhưng đối với các nhà khoa học của IVAC, câu chuyện về hai lô vaccin gặp hạn ấy vẫn là những bài học nhớ đời. Hơn thế, không biết có phải cũng từ câu chuyện buồn ấy không nhưng càng ngày, công tác hợp tác và đổi mới công nghệ càng trở nên quan trọng đối với các nhà khoa học nơi đây. Không ít các dự án được xây dựng và tranh thủ được sự trợ giúp về tài chính, về chuyên gia của các tổ chức quốc tế. Các chuyên gia UNICEF, WHO, Chính phủ Lucxambua, chuyên gia của các nước có nền khoa học, công nghệ, vaccin phát triển (Cu Ba, Nhật Bản, Mỹ, Hungari, Đan Mạch, Hà Lan...) đã trở thành bạn thân thiết của IVAC. Một loạt các dự án được triển khai tại IVAC với sự đầu tư vốn từ nguồn ODA như dự án sản xuất vaccin thương hàn có tổng trị giá trên 5 triệu USD từ nguồn vốn ODA Hàn Quốc hay dự án sản xuất thử nghiệm vaccin cúm A/H5N1 có tổng trị giá khoảng 2,7 triệu UDS từ tiền tài trợ của WHO.

Kết quả của sự đầu tư đó là những vaccin mới được ra lò. Vaccin tả uống, vaccin thương hàn Vi-polysaccharide, vaccin bạch hầu, uốn ván giảm liều, tuberculin P.D.D dùng cho điều tra dịch tễ bệnh lao hay nâng cao sản lượng vaccin như tăng từ 1 triệu lên 10 triệu liều vaccin TT mỗi năm, sản xuất huyết thanh kháng dại thay thế sản phẩm nhập khẩu từ Pháp, huyết thanh chống nọc độc rắn...

Sở dĩ có được sự hỗ trợ tận tình của các tổ chức như vậy, chung quy lại là bởi IVAC đã chứng tỏ được hiệu quả của sự đầu tư, hợp tác, hội nhập của mình. Các nhà đầu tư, dù vì bất cứ lý do gì đều quan tâm đến cái đích cuối cùng là hiệu quả. IVAC đã thành công trong việc chuyển hoá sự đầu tư đó thành những liều vaccin, các chế phẩm sinh học chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp phòng bệnh cho nhân dân, cho cộng đồng.

Ba mươi năm - một chặng đường. Và hôm nay, đồng nghiệp ở các viện, trường trong nước cũng như bạn bè quốc tế biết đến IVAC như một đơn vị trẻ trung đầy sức sống và thành công nối tiếp thành công. Nhiều đoàn quốc tế đã từng đánh giá Viện có mô hình sản xuất tương đối hoàn chỉnh từ cơ sở dịch vụ kỹ thuật, các labo sản xuất hiện đại, dây chuyền đóng ống liên hoàn tự động, đến các kỹ thuật kiểm định tiên tiến, có cơ sở chăn nuôi rộng lớn chủ động về súc vật thí nghiệm, có đội ngũ cán bộ công nhân lành nghề, nghiêm túc trong sản xuất.

Cùng niềm vui chung của cả Viện, người trí thức trẻ ngày nào ôm đống ống nghiệm từ Hà Nội vào Nha Trang - ông Viện trưởng của ngày hôm nay còn có một niềm vui riêng cho mình. Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Nụ cười trên khuôn mặt nhà khoa học sáng như ánh nắng Nha Trang.

Nam Khánh


Ý kiến của bạn