Tháng Tám, nhớ Đường về với Mẹ Chữ

Văn hóa – Giải trí
Ngày tựu trường của trẻ con năm nay bắt đầu từ tháng 8. Nhìn lũ trẻ cắp sách tới trường bỗng nhớ tới chuyện “Đường về với Mẹ Chữ” của Vi Hồng - chuyện khai trường ở “mạn ngược” thời kỳ đầu cách mạng.

Ngày tựu trường của trẻ con năm nay bắt đầu từ tháng 8. Nhìn lũ trẻ cắp sách tới trường bỗng nhớ tới chuyện “Đường về với Mẹ Chữ” của Vi Hồng - chuyện khai trường ở “mạn ngược” thời kỳ đầu cách mạng.

Nhà văn Vi Hồng 

“Ngày ấy chúng tôi tuy là học sinh lớp bảy đang đi thi vào lớp tám nhưng đều đã lớn cả. Có người mười chín tuổi, người ít tuổi nhất cũng mười bảy. Cho nên chúng tôi đi bộ nhanh lắm. Ngày đầu chúng tôi cuốc bộ được gần năm mươi cây số. Nhưng ngày thứ hai thì đôi chân cả lũ đều sưng vù lên! Lê lết mãi cũng chỉ đi được đoạn đường gần hai chục cây mà thôi. May có bạn Phan Soong mang theo một lọ rượu ngâm củ ú tàu - gọi tắt là rượu ú tàu. Có lẽ gia đình bạn Soong thấy con mình yếu ớt, mỏng mảnh như thư sinh nên chuẩn bị phương tiện đi đường chu đáo hơn. Rượu ú tàu bóp chân đau, đi bộ rất là thiện nghệ. Nhưng khi trở về thì rượu ú tàu đã hết. Tuy ngâm tiếp vẫn dùng được, nhưng không tốt. Ngày thứ hai lượt về, tuy đã quen hơi nhưng cũng chỉ đi được ba mươi cây số. Ngày thứ ba đi được có hai mươi nhăm cây số. Ngày thứ tư trở đi thì lại quen dần, đi nhanh dần...

Ngày đi, đêm gặp nhà, gặp bản thì xin nghỉ nhờ. Tối giữa rừng thì ngủ rừng, ngủ lều các quán dọc đường... âu là chuyện thường. Phan Hỏn người cao hai mét, nặng tám mươi nhăm ki lô gam, không đi vừa giày dép bán ngoài chợ. Đôi giày của nhà tự làm lấy và đôi mang theo dự phòng cũng đều rách tan hết. Lượt về chưa được bốn mươi    cây số đôi giày thứ hai của bạn Hỏn đã nát. Những ngày đầu anh em còn lấy dây, lấy giẻ buộc lại mà đi. Nhưng chỉ được một ngày, đôi giày của anh đã nát như chân con rết! Anh vứt giày đi chân đất. Đi được nửa ngày, chúng tôi tưởng anh bị đau chân. Ai cũng thông cảm, hỏi han, có gì thì chăm sóc! Bạn Hỏn cao lênh khênh mỉm cười mệt mỏi và nói:

- Ày! Có sao đâu mà! Các thằng mày, bỏ giầy, đi đất hoá ra lại mát chân và thoải mái hơn đấy.........

Phan Soong có cái giọng kim của cô gái, lên tiếng một cách đau khổ:

- Chúng mày ơi! Chân tao ai nung nấu chín nhừ cả rồi! - Soong mà nhăn mặt, uốn cặp môi dẻo thì ai cũng cảm thấy  như chính mình đau.

Hôm nào cũng vậy, cứ gần trưa và chiều chiều thì chúng tôi tự tách nhau ra, không ai nói với ai. Anh nào cũng thất thểu, buồn thiu, câm lặng như những cái bóng vật vờ ruổi trên đường dài. Nhưng khi ăn cơm trưa, chiều ở quán, ở bụi bờ xong lại tíu tít. Một hôm gần Nà Phặc, trời đổ tối, rừng âm u, bản làng thưa thớt, bạn Tập lên tiếng thức tỉnh cả lũ:

- Các thằng mày à! Trời sắp trát chàm vào mắt rồi đấy! Ngủ rừng hay sao à?

Tập là người Kinh duy nhất trong đoàn nhưng lại hay nói tiếng Tày nhất......

Chúng tôi có cách ngủ đặc biệt. Chúng tôi trải lá hoặc tốt hơn thì rơm rạ, cỏ gianh khô một vùng rộng. Chúng tôi ngủ quay đầu ra ngoài chân đạp vào nhau thành vòng tròn, vẻ giống như một bông hoa nở căng. Bạn Hoảnh nói:

- Chúng ta ngủ như thế này là bắt chước theo đàn trâu ngủ rừng. Các thằng mày có biết không? Lũ trâu hàng trăm con ngủ giữa rừng thì tất cả những con trâu đực, trâu cái khỏe đều ngủ ở vòng ngoài, đầu ghếch ra phía sân, sẵn sàng húc thủng ruột bọn hổ báo và cả lũ chó sói. Những con trâu nghé, trâu yếu ngủ ở vòng giữa. Vì thế tao mới đề xuất ngủ theo kiểu này đấy. (Trích Đường về với Mẹ Chữ).

Nhớ chặng đường gian khổ xưa

Chỉ cần nghe mấy câu hát lượn này của người Tày, ta đã thấy ngay: đây là một dân tộc có truyền thống hiếu học: Đời nghèo anh vẫn cố học/Nghèo cơm thì khó nhọc chân tay/Nghèo chữ hồn lắt lay như ngọn đèn trước gió/Người giỏi chữ rộng đường suy nghĩ/ Người mù chữ nghĩ bí lỗ trôn kim... Nhưng chỉ đến khi dân tộc Tày có nhà văn Vi Hồng (1936-1997) viết tác phẩm Đường về với Mẹ Chữ, ta mới thấy cụ thể, sinh động hành trình chiếm lĩnh tri thức của các bạn Tày diễn ra vất vả, gian lao đến thế nào!

Người Tày quen gọi những gì quý giá, sinh sôi nẩy nở được là mẻ (mẹ): mẻ đá, mẻ nước... Vậy thì nhà trường , nơi sinh nở chữ nghĩa kiến thức cũng là mẹ, Mẹ Chữ Lương Ngọc Quyến  ở Thái Nguyên là trường phổ thông cấp III duy nhất, hoàn chỉnh của tất cả các tỉnh miền núi phía bắc những năm 1950...

Học sinh Cao Bằng khi học hết chữ ở tỉnh nhà, muốn lên lớp 7 (lớp 9 bây giờ) phải cuốc bộ hoặc đi xe đạp (nếu có) về Thái Nguyên khoảng 250 km đến 300 km tùy huyện gần, huyện xa. Vậy là cậu học trò Vi Hồng và các bạn đã đi bộ 9 ngày đêm để đến trường học. Ôn thi xong ở trường thì bỗng có thông báo hoãn thi một tháng. Tiền đem theo không đủ ăn trong một tháng, đành lếch thếch cuốc bộ 9 ngày nữa trở về Cao Bằng. Chưa về nóng chỗ đã lại chuẩn bị ra đi... Đó là năm học 1954-55, năm chưa có cái xe khách nào ngược xuôi Cao Bằng – Thái Nguyên.

Khoảng 80 trang sách khổ nhỏ 10x15 cm không nói gì đến việc học, mà chỉ kể về chuyện đi học, đã vô cùng phong phú, bởi con đường dài dặc đó hầu hết là xuyên qua các cánh rừng rậm hoang sơ. Nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét: Tác giả đã trải nghiệm và kể lại, nó thực đến từng chi tiết và tự nhiên ở cả những cảm giác huyền ảo mà nó tạo nên.

Thiên nhiên hoang dã ở nước ta, dù ở cực bắc hay cực nam, đều có nhiều điều bí ẩn, kỳ diệu, trước đây sở dĩ ta chưa biết đến vì chưa có những nhà văn có tài, gắn bó máu thịt với chúng như Đoàn Giỏi, như Vi Hồng để miêu tả lại. Trên đường đến với Mẹ Chữ, Vi Hồng cùng các bạn mới được chứng kiến nhữn chuyện lạ tưởng như chỉ còn trong lời kể của già bản: “Rết hổ kéo đàn kéo lũ hành quân qua rừng, qua núi... ào ào như một trận mưa rào. Nhưng khi rình mồi lũ rết ghê hồn lại nằm im thin  thít. Một con rết hổ to bằng mái chèo, dài bằng sải tay, có hàng trăm rết nhỏ đi theo... Người hoặc hàng trăm loài vật khác, dù to lớn như hổ, như gấu, bị rết hổ cắn đều chết tức khắc. Nhiều người già từng thấy rết hổ cắn những con gấu, con hổ lớn. Con rết mà ngoạm vào chân con vật, con vật đau buốt đến tim óc, đổ xuống như một cột đá. Lập tức hàng trăm con rết con bâu vào cắn xé, ăn thịt con vật, trong chốc lát chỉ còn bộ khung xương...”.

Vi Hồng và người bạn ỉ vào hai chiếc xe đạp lắp đèn pha mới, đã băng rừng trong đêm để chóng về nhà ăn Tết. Ai ngờ hai chiếc đèn đều hỏng cả, khiến hai cậu phải đối phó suốt đêm với một con hổ đói lẵng đẵng theo suốt dọc đường. Các cậu được chứng kiến con hổ “rung rừng” dọa nạt con mồi (bốn chân nó cào và hất đất đá nhanh không cái máy nào nhanh bằng) như một cơn lốc dữ dội tưởng phải hàng chục con hổ mới làm được như vậy. Con hổ đói còn chặn đường hai cậu, cảnh tượng thật kỳ lạ:  “Con hổ ngồi cao hơn người tôi đứng. Hổ ngồi im, tôi cũng dạng chân, đứng tấn, cầm con dao nhọn thế thủ. Chừng ba phút im lặng nặng nề khủng khiếp trôi qua, hổ bỗng phun nước bọt ào ào, xối xả... đập vào mặt tôi. Cái sức gió của nó phun ra mạnh đến nỗi tôi gần như không đứng vững. Nhưng tôi bỗng nhớ người già nói rằng: hổ phun nước bọt, làm con mồi ngã để bắt. Các già mường nói thêm rằng: Nếu con mồi không đổ, không ngã sóng xoài thì hổ không dám bắt. Vì thế phải dũng cảm mà hét lên, dùng hết sức của mình mà chống lại. Tôi cũng hét to lên và làm động tác như lao vào nó. Tôi tiến lên chừng hai bước. Hổ lùi lại hai bước. Và lão hổ lại ngồi xuống lặng im. Rồi hổ lại đứng dậy, lại phun nước bọt...” Người và hổ cứ cầm cự tiến lui như thế đến dăm lần... Cuối cùng nghị lực hai con  người nhỏ bé đã thắng. Cậu bạn đã kịp đốt lửa lên, lúc này hổ đã lâm vào thế yếu.

Cuộc cầm cự với hổ dữ như tiêu biểu cho sự việc nhóm học sinh Cao Bằng cầm cự với mọi khó khăn trên quãng đường 300 km suốt mấy năm học tập, để hôm nay người dân tộc đã có một thế hệ trí thức mới: Cả 7 người trong nhóm đều ở những cương vị phụ trách khác nhau (thời điểm 1996-97): Phan Văn Hỏn (dân tộc Nùng), mang tên mới Phan Chu Minh, thượng tá Viện trưởng Viện quân y 91, Đặng Đình Lư - Giám đốc mỏ Thiếc Cao Bằng, Lê Văn Hoảnh - Tổng công trình sư ở Tây Nguyên, Bế Tâm - Giám đốc  xưởng Dược Cao Bằng, còn tác giả Vi Hồng thì giảng dạy tại khoa văn Trường đại học sư phạm Việt Bắc, trước khi nghỉ hưu.

Hơn nửa thế kỷ qua đi, cảnh vật những trang rừng  do Vi Hồng ghi lại đã như từ thuở xa xưa nào. Mới thấy: Bên cạnh cuộc chiến bảo vệ rừng và môi trường thiên nhiên tươi đẹp, ta cần biết bao những nhà văn yêu quý thiên nhiên như Đoàn Giỏi, Vi Hồng... Không phải ta không thể có những nhà văn chuyên viết về thiên nhiên như Prisvin của nước Nga cho ta say đắm những cánh rừng Nga! Nhưng trước hết, các nhà văn người dân tộc (giàu vốn sống núi rừng) phải được nâng lên một tầm văn hoá thích ứng cho những tác phẩm dài hơi!

Trên đường đi gặt hái kiến thức, cậu bé Vi Hồng đã tích lũy vốn sống và kiến thức như thế đấy để trở thành nhà văn Vi Hồng yêu quý của các bạn đọc nhỏ tuổi, và cả độc giả người lớn chúng ta nữa! Ông đã xuất bản được 15 tác phẩm văn xuôi với cuộc đời quá ngắn, 61 năm!

VÂN LONG


Ý kiến của bạn