5 giờ chiều, chúng tôi có mặt ở Thần Sa thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên). Trước mắt chúng tôi, bãi vàng Thần Sa hiện ra thật ảm đạm. Đó là một bãi đất rộng chừng vài chục ha, vàng vọt mầu đất, nham nhở hàng trăm hầm và những hố sâu hun hút. Rải rác khắp bãi là những tốp người oằn lưng xuống bên suối. Tiếng máy nổ sàng tuyển đất đá, tiếng la hét, chửi bới nhau váng động cả một góc rừng già.
Thần Sa vốn chẳng có gì đặc biệt nếu như ở dưới lớp đất màu mỡ kia không có vàng. Từ khi phát hiện ra ở đây có vàng, chẳng hiểu ở đâu người ta ùn ùn kéo đến tìm vàng, nhưng sự hy vọng đổi đời nhờ vàng chẳng thấy đâu, chỉ thấy vàng da, vàng mắt và cả những ánh chiều vàng vọt...
Hố vàng sâu hun hút đến rợn người. |
Người lái xe ôm sùm sụp chiếc mũ cối kể với tôi, mấy năm về trước, đường vào bản Vàng Lá (thuộc xã vùng cao của xã Thần Sa) còn phải vượt qua ba "khúc cầu". Nói là "khúc cầu" bởi dân bản gom góp tiền mua gỗ, xẻ, rồi níu lại với nhau bằng xích sắt để băng qua suối. Xe máy qua phải trả 3.000đ/lượt, đắt gấp 3 lần phí đường bộ Nhà nước. Còn năm nay, huyện đầu tư nâng cấp con đường vào bản thành đường cấp phối, xe máy có thể “è, è” qua chứ không phải dắt bộ hay thuê người đẩy sau. Dân trong vùng nhiều người sống nhờ vào bãi đào vàng này. Đàn ông khỏe mạnh thì chạy xe ôm. Đàn bà, trẻ em thì tranh thủ gánh hàng hóa phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho những người trong bãi đào vàng.
Đêm ở Thần Sa, nhìn từ trên cao xuống, cả thung lũng như một thành phố ngàn sao, trong diện tích hơn 30ha của thung lũng bản Vàng Lá lung linh, lấp lánh hàng vạn ánh đèn. Ánh đèn chạy bằng những chiếc máy phát điện phục vụ đám nhân công của các bưởng đãi vàng, ánh đèn kéo thành vệt của những chiếc máy đào... Rồi thì, hàng trăm chòi, lán nằm chen chúc nhau, xen vào những vệt sáng đèn là tiếng nhạc phát ra gần như hết công suất từ những dàn nghe nhạc tân tiến như muốn xoa dịu nỗi buồn tha hương của đám phu đãi vàng.
Quán xá ăn nhậu, những tụ điểm chơi bời hoan lạc nằm dưới chân núi đá cũng hoạt động hết công suất về đêm để phục vụ những cơ thể mệt nhoài sau một ngày vật lộn với cơn khát vàng.
Chỉ tay về một số ánh đèn leo lét dưới thung lũng, Trưởng thôn bản Lá Hoàng Văn Đức kể: "Đó là những tay đãi vàng "dặt dẹo", chúng ra bãi để bới những đống đất đã được đãi một lần để đãi lại. Vì là đãi lại xái vàng nên số vàng chẳng được là bao. Cả đêm "tóc" (đãi vàng bằng máng nhỏ) may mắn lắm cũng chỉ được 1 ly, bán được lấy vài chục nghìn".
Thế nhưng ngoài việc đãi lại xái vàng, dân địa phương còn phải khâm phục những tay thợ đào vàng "dặt dẹo" này ở khoản tìm vàng từ đá. Những hòn đá màu gì, hình thù ra sao có thể chứa những vảy vàng thì những tay thợ đào vàng này đều đoán biết được. Nhưng lượng vàng trong một hòn đá to như vậy chỉ có vài vảy to bằng hạt cát hay cái đầu tăm nên các tay “dặt dẹo” này cũng chẳng mặn mà gì.
Sáng hôm sau, thung lũng bản Vàng Lá (theo tiếng địa phương có nghĩa là thung lũng Mắt Trời) dưới ánh mặt trời, chỉ là một "bãi chiến trường" đầy mồ hôi và nước mắt.
Đãi vàng |
Trước mắt chúng tôi, bãi vàng Thần Sa hiện ra thật ảm đạm. Đó là một bãi đất rộng chừng vài chục ha, vàng vọt mầu đất, nham nhở hàng trăm hầm và những hố sâu hun hút. Rải rác khắp bãi là những tốp người oằn lưng xuống bên suối. Tiếng máy nổ sàng tuyển đất đá, tiếng la hét, chửi bới nhau váng động cả rừng già. Ở chân núi, còn hơn chục căn lều. Trong lều, chăn chiếu tạm bợ, bẩn thỉu, xung quanh đầy ống xilanh, "sản phẩm" của những trận chích choác ma túy triền miên.
Giữa con suối, những tấm ván mục trôi nổi lềnh bềnh, từng nhóm 4-5 người đi ủng cao su quá gối, tay bọc nilon sát nách lội bì bõm khiêng các thân gỗ đường kính 30-40cm chặn ngang dòng nước.
Người đàn bà Thái đắm đuối vào từng giọt nước nhỏ xuống cái nồi nhôm méo mó mà hỏi vặn lại tôi: "50 nghìn? Được thế đã sướng! 10 nghìn, 20 nghìn, có ngày không đồng nào!" - chị chỏng lỏn, rồi đưa mắt ngó nghiêng.
Để khai thác, dân đào vàng đào một cái hố rộng sâu khoảng 20-50m thì bắt đầu những nhánh ngang, đào đến đâu chống cột đến đó. Các phu vàng xuống hầm, bằng nhiều loại thang. Mạo hiểm hơn cả là cách dùng que và dây tời.
Phải thuyết phục mãi, một chủ hầm mới đồng ý cho tôi theo chân Bình - một nhân công có thâm niên - xuống hầm. Dây tời là một sợi dây thật chắc, một đầu buộc một thanh gỗ ngang, đầu còn lại được người ở trên thả xuống theo hệ ròng rọc như cái kiểu người ta vẫn thường thả gầu từ trên cao xuống để múc nước ở dưới giếng. Tôi ngồi lên thanh gỗ rồi tụt xuống hang Hút.
Từ cửa hầm đã ngửi thấy mùi khói xông ra nghi ngút. Dưới lòng hang là suối, theo ánh đèn pin loang loáng của Bình đi sâu vào vài trăm mét thi thoảng lại giật thót mình vì gặp người đi khai thác. Hình dáng chung trông ai cũng quắt lại, người vàng ệch vì thiếu nắng. Mặt cúi gằm, quần quật làm việc tối ngày. Họ luôn lảng tránh khi bắt gặp người lạ.
Bình tâm sự: "Cũng sợ lắm chứ anh! Giờ không còn chuyện chủ bưởng đánh chết người nhưng còn sập hầm... Chả nói đâu xa, năm ngoái cũng có vài người chết. Nhưng làm thế nào được anh? Bọn em cứ phải đánh đu với số phận, biết đâu đến một ngày lại "trúng mỏ". Mà kệ! giờ bét nhất ngày cũng được 20-30 nghìn đồng".
Từ những năm 2000, chính quyền huyện Võ Nhai và tỉnh Thái Nguyên đã liên tục mở các đợt truy quét "vàng tặc", đồng thời cắt cử cán bộ công an, quân đội cùng xuống chốt giữ thì tình hình mới tạm yên. Thế nhưng cứ mỗi khi lực lượng này rút đi, một số nhóm người nhỏ lẻ, tự phát vẫn lén lút vào khai thác.
Lán ở của dân đào vàng |
Đến thời điểm hiện tại, khi lại rộ lên tình trạng khai thác, phía cơ quan chức năng vài tháng lại ra quân rầm rộ, nhưng rồi lại đâu vào đấy, cũng chỉ như "bắt cóc bỏ đĩa". Và dân đãi vàng Thần Sa dường như cũng hiểu rõ "quy luật" này. Khi được hỏi, một bưởng vàng thản nhiên: "Họ mà đến thì tôi lại rút quân vài ngày, nghe ngóng. Thử xem họ có ở đây được mãi không?" Nói rồi tay này lại chỉ đạo đám "phu" cặm cụi đào, cặm cụi đãi.
Buổi chiều ở bãi Thần Sa, nắng vàng bệch. Một ông già, vai khoác ba lô chân thấp chân cao vừa đi vừa khóc gọi con: "Ới con ơi là con ơi! Con ở đâu mà 4 năm nay bố chưa thấy mặt! Con sống khôn chết thiêng, bố tìm con mỏi mệt lắm rồi!". Tiếng văng vẳng, ai oán ấy bị vách núi lạnh lùng bật lại. Bình buồn rầu kể: “Ở đây, nhiều người đi tìm con lắm! Có những người tốn cả chục triệu đồng mà con vẫn bặt vô âm tín, đành thắt ruột nát gan ra về”.
Tôi bàng hoàng nhớ lại những nấm đất sè sè nguội lạnh trong thung lũng. Một người dân bản Vàng Lá cho biết đó là những nấm mộ của người đào vàng bị chết mà không có người thân đến nhận. Mùa lũ tới, các nấm mộ bị xóa đi để các mùa khô tới, các nấm mộ khác lại mọc lên. Liệu đây có phải những kẻ mất tích xấu số mà bao năm tháng người thân của họ mong mỏi tìm kiếm?
Tôi rời bản Vàng Lá, một mình một hướng bởi ngược đường với tôi là những người vẫn lầm lũi kéo nhau ra bãi vàng. Tôi biết lẫn trong đám kia, chỉ có những kẻ mới đến, chân ướt chân ráo ôm ấp hy vọng kiếm vận may để đổi đời. Còn những kẻ thâm niên hơn chắc đã quá hiểu thế nào là "giấc mộng đổi đời nhờ vàng". Nhưng đa phần họ cũng đã trót có "thâm niên" với ma túy hay bị lây căn bệnh thế kỷ trong những đêm thác loạn với gái mại dâm nên đường về nhà với họ thật xa vời.
Trọng Hoàng