Cuốn tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng hoàn thành vào tháng 12 năm 1982, tháng cận Tết. Và hai chương đầu của cuốn sách này là sự miêu tả cảnh đón Tết, ăn Tết ở một gia đình Hà Nội. Thời gian của sự kiện được bắt đầu từ: Như bây giờ, đang cữ đông rét mướt, lại là những ngày giáp Tết Nguyên đán..., và kết thúc ở đúng giao thừa: Giao thừa! Giao điểm của cũ mới, dấu chân của năm cũ, nốt nhạc đầu tiên của một hành khúc mới..., tức là chỉ trong khoảng một tuần lễ là tối đa. Một tuần lễ ấy, theo tôi, đã gom vào bản thân nó những nét chính đủ phác lên cảnh đón Tết, ăn Tết ở một giai đoạn chưa xa – những năm cuối thời bao cấp, đây là cảnh đón Tết, ăn Tết ở các gia đình cán bộ công nhân viên thuộc các thành phố miền Bắc thời ấy.
1. Hãy bắt đầu từ cái ăn theo đúng nghĩa đen của từ này. Trước hết, chúng ta xem chị Lý - bà nội trợ đảm đang đáo để của cả gia đình - đã mua về nhà những thực phẩm gì cho dịp Tết: Miếng thịt lợn ba chỉ, khổ mỡ dầy nửa gang tay, chềnh ềnh, trắng ngộn. Cà chua đỏ hồng. Cà rốt đỏ gạch. Miếng bóng vàng ngậy. Bó hành xanh bóng. Hoa súp lơ trắng ngà... Tất cả chỉ là thịt là rau, là miếng sống miếng chín vẫn ăn cả thôi mà sao vẫn hiển nhiên vẻ đặc sắc khác thường.
Một cửa hàng thời bao cấp. Ảnh: VNN |
2. Tiếp đến, ta hãy xem những thứ thực phẩm mà Lý mua về đã được chị chế biến ra sao. Đây là cảnh Lý gói bánh chưng, nhìn từ con mắt đầy say mê của cô em dâu tên Phượng: Trông chị lọc thịt kìa: lưỡi dao bài mỏng như cái lá lúa, sục vào tảng thịt, rành rạch, tở từng lát dài gọn như xém, trông đã phát thèm. Miếng thịt gói bánh to bản, dầy vừa độ, có cả mỡ cả nạc, ướp muối tiêu, không ướp nước mắm sợ để lâu bánh thiu, xếp đầy ụ hai cái bát ô tô. Chỗ đỗ vàng tơi nóng hổi. Tấm lá bọc lau miết, sạch bóng. Hàm răng nhỏ trắng ngời tước cái cọng lá. Những ngón tay búp măng vặn cái lạt giang mềm óng ả. Một tiếng đồng hồ, gói gọn thon lỏn yến rưỡi gạo nếp. Tất cả, vừa nãy còn ngổn ngang thúng mẹt, nồi niêu, gạo đỗ, lá lạt, giờ đã chặt chịa ba chục cái bánh gói không khuôn mà chiếc nào cũng giống chiếc nào, cao thành, vuông góc, đều như đúc”.
Tôi không dám khẳng định cái cảnh gói bánh chưng và nấu cỗ ngày Tết ấy là cảnh của tất cả các gia đình cán bộ công nhân viên thành thị miền Bắc hồi cuối thời bao cấp. Nhưng chắc chắn, nó đang rất hiếm gặp được bây giờ. Thời đại của siêu thị, của fast food, của đủ thứ vui chơi ngày Tết, ít ai hì hục ngồi gói bánh chưng để rồi lại phải bấm bụng ăn cả tháng giêng dù đã ớn tận cổ (vì bỏ đi thì tiếc). Đã có bánh chưng bán sẵn, mỗi nhà mua vài chiếc thắp hương gia tiên, thế là xong! Cỗ Tết cũng vậy, bây giờ ăn uống “phiên phiến”, có mấy người kỳ khu nấu nướng đến độ “thăng hoa” như chị Lý! Nhưng ở đây, theo tôi, ngoài sự sung sướng và kiêu hãnh vì được bộc lộ mình, việc Lý say sưa với công việc cỗ bàn ngày Tết cũng đã cho thấy phần nào đó cung cách ứng xử của con người hồi ấy. Đó là sự trân trọng, quý, tiếc đối với các thứ thực phẩm mà có khi cả năm họ mới một lần được thưởng thức, vào dịp Tết. Vâng, đó là cung cách ứng xử của con người thời cả nước ăn không đủ no. Cái ngày ấy nó thế!
3. Miêu tả cái Tết ở những năm cuối thời bao cấp, chuẩn bị bước sang thời đất nước đổi mới, hai chương đầu của Mùa lá rụng trong vườn cũng đã kịp ghi lại một vài dấu hiệu chuyển mình của xã hội, những dấu hiệu sẽ trở thành nét trội, nét phổ biến sau này.
Cái sự mặc chẳng hạn. Đây là bộ cánh mà Lý diện khi sắm Tết về nhà: Cái áo thật là đẹp! Áo liền mũ. Vải teclen, màu sôcôla, cao sang từ chất vải tới sắc màu, kiểu cách. Chưa hết! Còn lần bông lót bên trong. Chưa hết! Còn cái khoá. Chưa hết! Khi cái khóa kéo tuột xuống, mắt Phượng lại một lần nữa chói loà vì những mảng màu đối lập, nóng ẩm ở cái áo len khuôn bó thân hình Lý và Lý lại hiện ra dưới một sắc hình khác hẳn thường ngày.
Sắm Tết. |
Chuyện mua hoa, cây cảnh chơi Tết của Lý cũng là một sự bất thường giữa thời buổi ấy. Nếu bà phó phòng vật tư ở xí nghiệp Lý – phu nhân của một tân thứ trưởng – mua cây quất ba trăm đồng, thì Lý mua hẳn cây quất giá năm trăm đồng. Lý mua biếu bố chồng, nhưng thực chất là mua để tỏ rõ mình chơi sang hơn vợ quan, để ve vuốt tính hiếu thắng của chính mình. Và như vậy, có thể nói đây là biểu hiện của tâm lý chơi trội chăng, khi mà cả nước “chung một diện mạo, chung một tâm hồn”?
Trong sự phát triển tiếp tục của mạch truyện ở các chương sau, tác giả đã cho thấy khá rõ ý đồ dụng bút của mình khi nhấn mạnh ở nhân vật Lý những biểu hiện vừa kể trên. Chính tâm lý thích hưởng thụ và thói hiếu thắng, chơi trội sẽ là những hạt mầm có sẵn, để khi gặp điều kiện thích hợp, nó sẽ nảy nở và biến Lý thành một con người khác hẳn, một con người trượt dài xuống hố thẳm vật chất, vị kỷ. Có thể nói, đó là cách hình dung vấn đề con người khá tiêu biểu cho tâm thế một thời. Tác giả và những con người cùng thời với ông, hẳn chẳng thích thú gì cuộc sống thiếu thốn đủ bề mà những ô tem phiếu đem lại, song trước những biểu hiện manh nha của một lối sống mới, khác với cái mình quen thuộc, họ co lại, đầy “cảnh giác”, và tiên lượng nó chủ yếu theo chiều hướng tiêu cực. Từ cái Tết ở một gia đình cán bộ Hà Nội trong những năm đầu 1980, tác giả đã nhìn thấy cái mới ấy, nhưng ông không thể đoán được rằng, rồi đây nó sẽ phổ biến toàn xã hội, phổ biến quanh năm (chứ không cứ gì dịp Tết), và, không hẳn bao giờ nó cũng kéo theo hậu quả xấu. Nhưng, cái ngày ấy nó thế!
Thời bao cấp, cái thời chưa xa với đất nước chúng ta là mấy, cái thời in hằn trong ký ức của những người Việt Nam độ tuổi ba mươi trở lên. Nhưng với thế hệ kể từ 1985 trở đi, có lẽ nó chỉ giống như thời của cổ tích buồn mà các bậc phụ huynh nhiều hoài niệm vẫn thường ôn lại với nhau lúc trà dư tửu hậu. Cái thời ấy người ta đón Tết, ăn Tết ra sao? Đọc hai chương đầu của Mùa lá rụng trong vườn sẽ thấy hình ảnh Tết của “đêm trước đổi mới” trong các gia đình cán bộ công nhân viên ở thành thị miền Bắc!
Hoài Nam