Thời gian qua, dư luận đã bàn nhiều đến bản tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người khuyết tật. Để rộng đường dư luận, Sức khỏe&Đời sống xin giới thiệu bài viết của TS. Trần Quý Tường, Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế - người tham gia từ đầu khi soạn thảo bản tiêu chuẩn này.
Qua 11 lần hội thảo lấy ý kiến các bộ, ngành
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số 04/2007/CT-BYT ngày 8/11/2007, thành lập Ban soạn thảo tiêu chuẩn sức khỏe các ngành nghề để xây dựng bản tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy 3 bánh dùng cho người khuyết tật.
An toàn giao thông là mong ước chung của toàn xã hội. |
Bản tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở thực tiễn và căn cứ khoa học
Nội dung về tiêu chuẩn sức khỏe, gồm tiêu chí về thể lực và 13 nhóm tiêu chí về chức năng sinh lý, bệnh tật theo chuyên khoa. Tiêu chí về thể lực được chia làm 3 nhóm: nhóm 1 gồm lái xe hạng A2, C, D, E, F; nhóm 2 gồm hạng A3, A4, B2; nhóm 3 gồm lái xe hạng B1, A1. Các tiêu chí về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, lực bóp tay, lực kéo thân của lái xe các hạng được kế thừa từ tiêu chí ban hành theo Quyết định số 4132/2001/QĐ-BYT. Riêng tiêu chí về thể lực của lái xe A1 (xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 50cm3 đến dưới 175cm3) được quy định mới. Người có chiều cao đứng dưới 1m45, cân nặng dưới 40kg, vòng ngực trung bình dưới 72cm, lực bóp tay thuận dưới 26kg, lực kéo thân dưới 70kg thì không được cấp phép lái xe hạng A1.
Các tiêu chí này được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học là: Theo thông số kỹ thuật của một số xe mô tô 2 bánh có dung tích xi lanh từ 50cm3 đến dưới 175cm3, thì chiều cao yên xe trung bình từ 74 - 76cm. Để bảo đảm an toàn giao thông, người điều khiển xe mô tô 2 bánh phải có chiều dài của chân tối thiểu là 75cm. Mà để có chân dài từ 75cm trở lên thì người đó phải có chiều cao đứng trên 1m45. Theo Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX (Bộ Y tế, Nhà xuất bản Y học- Hà Nội, năm 2003, trang 15, 20), người Việt Nam 18 tuổi, nam có chiều cao trung bình là 163,45 ± 4,75cm, cân nặng trung bình là 49,71 ± 4,84 và nữ có chiều cao trung bình là 152,77 ± 4,20cm, cân nặng trung bình là 43,84 ± 4,14. Người Việt Nam 20-24 tuổi, nam có chiều cao trung bình là 163,72 ± 4,67cm, cân nặng trung bình là 52,11 ± 4,70 và nữ có chiều cao trung bình là 153,00 ± 4,32cm, cân nặng trung bình là 44,60 ± 4,22. Mặt khác, theo Viện Dinh dưỡng thì chiều cao và cân nặng của người Việt Nam được cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây. Như vậy, việc quy định người có chiều cao dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg thì không được cấp giấy phép lái xe A1 là có cơ sở khoa học và cũng phù hợp với hầu hết người dân Việt Nam. Những người thấp dưới 1m45 hoặc cân nặng dưới 40kg, vì sự an toàn giao thông cho bản thân và mọi người tham gia giao thông hãy sử dụng các loại xe có dung tích xi lanh dưới 50cm3 hoặc các phương tiện giao thông phù hợp khác. Tuy nhiên, theo ý kiến của một số chuyên gia thì hiện nay trên thế giới đã có các loại xe đặc thù được thiết kế dành cho người có chiều cao đứng thấp hoặc nhẹ cân. Khi nào các loại xe đặc thù này được nhập, sử dụng ở Việt Nam, Bộ Y tế sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan để xem xét và quy định bổ sung các tiêu chuẩn sức khỏe người lái xe cho phù hợp với thực tiễn.
Nhóm tiêu chí về chức năng sinh lý, bệnh tật theo 13 chuyên khoa cũng được chia làm 3 nhóm: nhóm 1 gồm lái xe hạng A2, A3, A4, B2, C, D, E, F; nhóm 2 gồm lái xe hạng B1; nhóm 3 gồm lái xe hạng A1. Nhìn chung các tiêu chí này được quy định cụ thể, ngắn gọn hơn tiêu chí cũ, tập trung vào những yêu cầu cần thiết nhất đối với người điều khiển xe cơ giới, bỏ qua những mục khám không cần thiết, nhưng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn sức khỏe để lái xe. Ví dụ như quy định về mắt, theo quy định cũ (Quyết định số 4132/2001/QĐ-BYT) gồm các tiêu chí về thị lực, thị trường, sắc giác, mộng thịt, sẹo giác mạc, các bệnh ở mi mắt, viêm tắc lệ đạo mạn, lác mắt, cận viễn loạn thị, lão thị, các bệnh khác. Nhưng ở quy định mới (Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT) chỉ có 3 nội dung là thị lực, thị trường và sắc giác; các bệnh khác ở mắt đều được xem xét có ảnh hưởng đến thị lực, thị trường và sắc giác là đầy đủ.
Về điều kiện cơ sở y tế tham gia khám sức khỏe để cấp giấy phép lái xe, tất cả các cơ sở y tế nếu có đủ các điều kiện được các quy định tại quyết định này thì giám đốc cơ sở y tế tự quyết định việc tham gia khám sức khỏe để cấp giấy phép lái xe và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình, chịu sự thanh tra, kiểm tra của cấp có thẩm quyền.
Với mục đích bảo đảm an toàn giao thông cho người điều khiển phương tiện giao thông và cho mọi người tham gia giao thông, quy định về tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không chỉ là cơ sở pháp lý để mọi người muốn có giấy phép lái xe phải thực hiện, đồng thời các tiêu chuẩn này còn là các chỉ số về sức khỏe để mọi người chủ động rèn luyện thân thể, phấn đấu đạt các điều kiện về sức khỏe để có thể có giấy phép lái xe thích hợp, hoặc lựa chọn phương tiện giao thông cá nhân phù hợp với bản thân, bảo đảm lợi ích cộng đồng.
TS. Trần Quý Tường