Các cơ sở sản xuất vắc xin trong nước tiếp tục duy trì năng lực sản xuất 14 loại vắc xin
Chiều 10/9, tại Bộ Y tế diễn ra cuộc họp sơ kết giai đoạn 2023-2025 thực hiện Kế hoạch triển khai Chương trình bảo đảm nguồn cung ứng vắc xin cho tiêm chủng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 1728/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan chủ trì cuộc họp.

Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan phát biểu chủ trì cuộc họp. Ảnh: Trần Minh
Tại Quyết định số 1286/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình bảo đảm nguồn cung ứng vắc xin cho tiêm chủng đến năm 2030 đưa ra mục tiêu đến năm 2030 làm chủ được công nghệ sản xuất 15 loại vắc xin; các vắc xin sản xuất trong nước bảo đảm đạt tiêu chuẩn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế; Sản xuất được tối thiểu 5 loại vắc xin, trong đó có vắc xin phòng bệnh phổi hợp 5 trong 1 phòng các bệnh: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, bệnh do Haemophilus Influenzae (Hib) và một trong hai bệnh Bại liệt hoặc Viêm gan.
Để triển khai thực hiện Quyết định 1268, lãnh đạo Bộ Y tế đã ký Quyết định số 1728/QĐ-BYT ngày 6/4/2023, ban hành kèm theo Kế hoạch triển khai Chương trình bảo đảm nguồn cung ứng vắc xin cho tiêm chủng đến năm 2030.
Báo cáo tại cuộc họp cho thấy, qua kết quả triển khai cho thấy năng lực nghiên cứu, sản xuất vắc xin trong nước tiếp tục được duy trì và từng bước nâng cao;
Các cơ sở sản xuất vắc xin trong nước tiếp tục duy trì năng lực sản xuất 14 loại vắc xin; một số công nghệ sản xuất mới từng bước được tiếp nhận và làm chủ, tạo tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu tự chủ công nghệ sản xuất vắc xin, cụ thể.
Hiện có 4 cơ sở sản xuất vắc xin trong nước: Trung tâm Nghiên cứu, sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm y tế (POLYVAC), Công ty TNHH MTV Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH), Viện Vắc xin và Sinh phẩm y tế (IVAC), Công ty TNHH Vắc xin Pasteur Đà Lạt (DAVAC); các cơ sở này đã sản xuất 14 loại vắc xin, trong đó có 10 loại vắc xin đang được sử dụng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng.
Một số công nghệ mới đã được VABIOTECH làm chủ: công nghệ sản xuất vắc xin Viêm não Nhật Bản (JE) bất hoạt trên tế bào Vero; công nghệ sản xuất vắc xin Hib cộng hợp (quy mô phòng thí nghiệm/bán công nghiệp); công nghệ sản xuất vắc xin phòng bệnh chân tay miệng (EV71).
Hiện nay, POLYVAC đang tham gia dự án tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin mRNA quy mô phòng thí nghiệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức bằng sáng chế (MPP) tài trợ.
VABIOTECH đang tiếp tục chủ động, nỗ lực nghiên cứu phát triển, tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin 5 trong 1 trong giai đoạn 2025- 2030; Cùng đó, VABIOTECH đang triển khai làm việc với các đối tác Nhật Bản, Ấn Độ, Cu Ba, Hàn Quốc về các dự án hợp tác chuyển giao công nghệ phối trộn, đóng ống các sản phẩm vắc xin có nhu cầu cao và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm chủ động nguồn cung vắc xin cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia.
Để nâng cao chất lượng vắc xin phục vụ nhu cầu phòng bệnh, phòng chống dịch của nhân dân, công tác kiểm định, kiểm nghiệm được quan tâm chú trọng. Trong 3 năm qua, số lượng lô vắc xin được kiểm định và cấp giấy chứng nhận xuất xưởng tăng liên tục qua các năm, từ 512 lô năm 2023 lên 818 lô năm 2025, tăng gần 60%.
Tính đến năm 2025, có 12 vắc xin được cung ứng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng từ các nguồn, trong đó có 10 vắc xin sản xuất trong nước là các vắc xin: Viêm gan B, Viêm năn Nhật Bản, Lao (BCG), Uốn ván hấp phụ (TT), Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván (DPT) Bạch hầu - Uốn ván (Td), Sởi, Sởi – rubella, Bại liệt uống (OPV) và Rota;
Hai vắc xin nhập khẩu là các vắc xin: phối hợp 5 trong 1 Bạch hầu - Ho gà – Uốn ván – Viêm gan B - Các bệnh viêm phổi, viêm màng não mủ do H. Influenza. tuýp B (DPT-VGB-Hib) và bại liệt tiêm (IPV).
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, quá trình triển khai vẫn còn có những khó khăn, tồn tại, không ít vướng mắc. Những nội dung này cũng đã được các đại biểu trao đổi, bàn thảo trong cuộc họp.


Lãnh đạo Cục Quản lý Dược, Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo báo cáo nội dung liên quan tại cuộc họp. Ảnh; Trần Minh
Vắc xin được xác định là công nghệ, sản phẩm chiến lược
Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan yêu cầu rà soát toàn diện kết quả triển khai chương trình, làm rõ những việc đã thực hiện, những nhiệm vụ chưa hoàn thành, nguyên nhân và đề xuất giải pháp trong thời gian tới.
Theo Bộ trưởng, sau thời gian triển khai, báo cáo sơ kết cần được xây dựng theo hướng đánh giá thực chất, có tính khái quát cao, không chỉ liệt kê các nhiệm vụ, văn bản hay hoạt động đã thực hiện mà phải chỉ ra được những kết quả nổi bật, điểm nghẽn còn tồn tại và định hướng phát triển tiếp theo của ngành sản xuất vắc xin trong nước.
Đặc biệt, bối cảnh chính sách hiện nay đã có nhiều thay đổi so với thời điểm xây dựng chương trình. Những chủ trương, chính sách mới về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, công nghiệp dược và tiêm chủng cần được cập nhật đầy đủ trong báo cáo.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan nhấn mạnh một trong những điểm mới quan trọng cần được cập nhật là Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo đó, yêu cầu xác định và phát triển các công nghệ chiến lược, sản phẩm chiến lược tạo thêm cơ sở để thúc đẩy những lĩnh vực công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia. Trong lĩnh vực y tế, sản xuất vắc xin được xác định là một trong những công nghệ lõi, đồng thời là công nghệ và sản phẩm chiến lược cần tập trung phát triển.
Đây là cơ sở quan trọng để nhìn lại chương trình bảo đảm nguồn cung vắc xin không chỉ ở góc độ đáp ứng nhu cầu tiêm chủng, mà còn phải đặt trong định hướng phát triển năng lực sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và tự chủ vắc xin của Việt Nam.









Các đại biểu phát biểu. Ảnh: Trần Minh
Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, nâng năng lực sản xuất
Theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, báo cáo sơ kết cần đánh giá những thay đổi về pháp luật từ năm 2022 đến nay. Nhiều quy định liên quan đến dược, đấu thầu, giá và các chương trình, đề án phát triển công nghiệp dược đã được sửa đổi, bổ sung.
Vì vậy, những khó khăn từng được xác định tại thời điểm xây dựng chương trình cần được rà soát lại, xác định nội dung nào đã được tháo gỡ, nội dung nào vẫn còn là điểm nghẽn.
Một yêu cầu khác được Bộ trưởng đặt ra là phải đánh giá đầy đủ vai trò của khu vực tư nhân và nguồn lực đầu tư trong, ngoài nước.
Bộ trưởng dẫn tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó xác định khu vực tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Theo đó, phát triển sản xuất vắc xin không nên chỉ được nhìn trong phạm vi các doanh nghiệp trong nước hay các cơ sở công lập. Cần đánh giá cả doanh nghiệp tư nhân, nhà đầu tư trong nước và quốc tế; đồng thời xác định rõ những lĩnh vực Nhà nước cần đầu tư, những lĩnh vực doanh nghiệp có thể đảm nhận và cơ chế để huy động hiệu quả nguồn lực xã hội.
Bộ trưởng cho rằng, khi sản xuất vắc xin đã được xác định là lĩnh vực chiến lược, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để thu hút đầu tư, bởi trên thực tế điều kiện để tiếp cận một số chính sách ưu đãi còn là thách thức đối với các dự án chưa đạt quy mô theo quy định.
Về cơ sở vật chất và công nghệ, Bộ trưởng Đào Hồng Lan yêu cầu phải đánh giá cụ thể năng lực sản xuất vắc xin trong nước hiện nay. Không chỉ thống kê số lượng cơ sở sản xuất, cần làm rõ công suất, năng lực công nghệ, mức độ tự chủ, kết quả hợp tác và chuyển giao công nghệ cũng như những hạn chế về máy móc, thiết bị.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan lưu ý cần đánh giá những nỗ lực của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong thời gian qua, đặc biệt trong hợp tác và tiếp nhận công nghệ. Đồng thời, phải xác định rõ những công nghệ nào đã làm chủ, những công nghệ nào đang chuyển giao và khả năng đưa sản phẩm vào sản xuất, phục vụ người dân.

Quang cảnh cuộc họp. Ảnh: Trần Minh
Đối với các cơ sở nghiên cứu, sản xuất vắc xin thuộc khu vực công, cần tiếp tục rà soát phương án chuyển giao, đổi mới mô hình hoạt động và sử dụng hiệu quả nguồn lực Nhà nước.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan cũng yêu cầu đánh giá lại hoạt động nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ vắc xin.
Theo tinh thần Nghị quyết 57, các chương trình khoa học công nghệ có thể mở ra thêm nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, việc lựa chọn nhiệm vụ phải gắn với mục tiêu, tiêu chí và khả năng tạo ra sản phẩm cụ thể.
Một nội dung khác, Bộ trưởng yêu cầu đánh giá năng lực của hệ thống kiểm định, kiểm nghiệm vắc xin trong nước, từ công suất, trang thiết bị đến khả năng đáp ứng những công nghệ mới.
Cùng với đó là vấn đề thử nghiệm lâm sàng. Bộ trưởng lưu ý làm rõ những quy định hiện hành, những khó khăn trong quá trình triển khai và tác động của các yêu cầu về thử nghiệm đối với tiến độ nghiên cứu, chuyển giao và đưa vắc xin vào sử dụng.
Nguồn nhân lực cũng là một nội dung cần được đánh giá. Theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, cần làm rõ đội ngũ hiện nay đã đáp ứng đến đâu nhu cầu nghiên cứu, phát triển và sản xuất vắc xin; những chuyên ngành, vị trí nào còn thiếu và cần được đào tạo, bổ sung.
Vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cần được nhìn nhận trong toàn bộ chuỗi nghiên cứu - phát triển - sản xuất vắc xin. Các đơn vị khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế và cơ sở đào tạo cần tham gia vào quá trình này để hình thành nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ vắc xin trong giai đoạn mới.
Bộ trưởng đề nghị các đơn vị thành viên Ban Chỉ đạo, các bộ, ngành và địa phương tham gia chương trình có đánh giá, số liệu và đề xuất thuộc lĩnh vực phụ trách. Qua đó, báo cáo sơ kết báo cáo đến Chính phủ phải phản ánh được bức tranh tổng thể về ngành sản xuất vắc xin Việt Nam, từ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất, kiểm nghiệm, đào tạo nhân lực đến tài chính, đầu tư và bảo đảm nguồn cung.
Đặc biệt, cần cập nhật các yêu cầu mới trong bối cảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến phát triển ngành dược, công nghiệp dược và năng lực sản xuất vắc xin trong nước.
Theo kế hoạch, các đơn vị gửi nội dung góp ý, đánh giá về Cục Quản lý Dược trước ngày 20/9. Từ ngày 20-30/9, Cục Quản lý Dược hoàn thiện dự thảo báo cáo để xin ý kiến lãnh đạo Bộ Y tế, các đơn vị, địa phương và cơ quan liên quan.
