Tái cấu trúc, đổi mới cách đánh giá các chương trình KHCN quốc gia

Xã hội
SKĐS - Bộ Khoa học và Công nghệ định hướng tổ chức lại hệ thống thành sáu nhóm chương trình, khắc phục tồn tại hiện có.

Tái cấu trúc 33 chương trình khoa học và công nghệ quốc gia

Sáng ngày 4/11, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức họp báo thường kỳ. Trong tháng 10, Bộ KH&CN tiếp tục tập trung cao độ cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH,CN,ĐMST&CĐS) phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, Bộ tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 57-NQ/TW (đến nay đã hoàn thành 504/695 nhiệm vụ được giao, đạt tỷ lệ 72,5%, không có nhiệm vụ quá hạn).

Tái cấu trúc, đổi mới cách đánh giá các chương trình KHCN quốc gia- Ảnh 1.

Toàn cảnh buổi họp báo. Ảnh: PV

Bộ KH&CN đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan của Quốc hội tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện hồ sơ 03 dự án luật trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, gồm: Luật Bưu chính (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường;  Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Bộ đã trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư các đề án chiến lược trọng điểm, nổi bật là việc Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 99-KL/TW ngày 28/9/2026 về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới; trình Ban cán sự đảng Chính phủ Đề án đất hiếm ngày 19/10/2026.

Tại họp báo, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ cho biết, việc tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, trùng lặp nhiệm vụ, đồng thời chuyển đổi phương thức quản lý từ chú trọng quá trình thực hiện sang đánh giá theo mục tiêu, sản phẩm, hiệu quả và tác động thực tế.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong thời gian qua, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đã đóng góp quan trọng vào phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ của đất nước. Giai đoạn 2016-2025, với khoảng 42 chương trình, đã triển khai khoảng 4.000 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống Web of Science và Scopus, đồng thời đào tạo 1.579 tiến sĩ.

Tái cấu trúc, đổi mới cách đánh giá các chương trình KHCN quốc gia- Ảnh 2.

Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: T.H

Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số hạn chế. Nguồn lực còn phân tán, nhiều nhiệm vụ có quy mô nhỏ, mục tiêu và nội dung giao thoa. Kết quả nghiên cứu chưa được kết nối hiệu quả với hoạt động phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa. Trong khi đó, phương thức quản lý vẫn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, chưa chú trọng đúng mức đến hiệu quả và tác động thực tế.

Để khắc phục những bất cập này, Bộ Khoa học và Công nghệ định hướng tổ chức lại hệ thống thành sáu nhóm chương trình gồm: phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; nghiên cứu cơ bản; các chương trình trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo; các chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; và chuyển đổi số quốc gia.

Trong năm 2026, Bộ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, gồm 25 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và 8 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Quá trình này được thực hiện qua bốn bước: rà soát, đánh giá sự cần thiết, kết quả và mức độ trùng lặp; xây dựng phương án tổ chức lại, xác định mục tiêu, phạm vi và sản phẩm đầu ra; trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; tổ chức chuyển tiếp, bảo đảm xử lý phù hợp các nhiệm vụ, hợp đồng, kinh phí, tài sản và kết quả nghiên cứu đã hình thành. Trên cơ sở đánh giá, từng chương trình có thể được tiếp tục triển khai, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc, bảo đảm không làm gián đoạn các nhiệm vụ đã được phê duyệt.

Đề án cũng đặt ra các mục tiêu định lượng cụ thể. Đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; tỷ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế đạt 40%; hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực và ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chiến lược. Đồng thời, phấn đấu có ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ.

Đến năm 2035, các chỉ tiêu này lần lượt tăng lên 60% nhiệm vụ có doanh nghiệp tham gia, 50% kết quả nghiên cứu được bảo hộ hoặc công bố quốc tế, ít nhất 50 nhóm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp và 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ.

Về lộ trình, năm 2026 tập trung rà soát, tổ chức lại hệ thống chương trình, hoàn thiện cơ chế điều phối và xây dựng nền tảng số dùng chung. Quý I/2027 hoàn thiện công cụ, hướng dẫn đánh giá theo khung tiêu chí mới. Giai đoạn 2027-2030 tập trung giải quyết các bài toán lớn, phát triển công nghệ lõi và hình thành sản phẩm; giai đoạn 2031-2035 tiếp tục đánh giá tác động, điều chỉnh và tổng kết đề án.

Đáng chú ý, phương thức đánh giá sẽ được đổi mới theo mô hình IOI với bốn cấp độ: đầu vào (kinh phí, nhân lực, hạ tầng); đầu ra (công nghệ, sáng chế, sản phẩm); hiệu quả (khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa); và tác động (đóng góp vào năng suất, năng lực cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế).

Việc tái cấu trúc không đơn thuần là sắp xếp lại các chương trình mà còn đổi mới phương thức tổ chức, quản trị hoạt động khoa học và công nghệ quốc gia, hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm có giá trị thực tiễn, đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng cho phát triển đất nước.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường: Tập trung chuyển đổi số, phát triển năng lực đo lường quốc gia

TS. Trần Hậu Ngọc - Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho biết, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường được xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế sau gần 15 năm thực hiện Luật Đo lường năm 2011, đồng thời đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ và cải cách thủ tục hành chính.

Theo nội dung dự thảo, phạm vi điều chỉnh của Luật được giữ nguyên. Dự thảo gồm 3 điều, trong đó sửa đổi, bổ sung 19 điều, bãi bỏ 4 điều và một số điểm, khoản tại các điều 39, 43, 48, 52; bổ sung 4 điều mới, gồm Điều 5a và Chương Va với các Điều 34a, 34b, 34c. Tổng cộng, dự thảo tác động đến 24/57 điều của Luật hiện hành.

Tái cấu trúc, đổi mới cách đánh giá các chương trình KHCN quốc gia- Ảnh 3.

TS. Trần Hậu Ngọc - Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia. Ảnh: PV

Nội dung sửa đổi tập trung vào ba nhóm chính.

Thứ nhất, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản lý đo lường. Dự thảo bổ sung quy định về xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung, số hóa kết quả đo lường và quản lý, khai thác dữ liệu trên môi trường số. Chứng thư điện tử được công nhận có giá trị pháp lý như văn bản giấy. Đồng thời, phần mềm của phương tiện đo phải đáp ứng yêu cầu nhằm phòng, chống gian lận. Trên cơ sở dữ liệu, hoạt động quản lý, kiểm tra sẽ từng bước chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thực hiện theo mức độ rủi ro.

Thứ hai, phát triển năng lực đo lường quốc gia và phát huy vai trò của doanh nghiệp. Dự thảo ưu tiên phát triển các chuẩn đo lường phục vụ công nghệ chiến lược, năng lượng mới, kinh tế số và kinh tế xanh. Đáng chú ý, lần đầu tiên Chương trình bảo đảm đo lường tại tổ chức, doanh nghiệp được luật hóa theo hướng tự nguyện. Chi phí thực hiện chương trình được tính là chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kết quả thực hiện chương trình được xem xét để giảm tần suất kiểm tra nhà nước về đo lường.

Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Dự thảo phân định rõ cơ chế quản lý đối với phương tiện đo nhóm 1 và nhóm 2. Với dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1 và chuẩn đo lường không dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2, tổ chức cung cấp dịch vụ thực hiện công bố năng lực và tự chịu trách nhiệm. Đối với phương tiện đo nhóm 2, Nhà nước thực hiện đánh giá, chỉ định tổ chức đủ năng lực.

Dự thảo đồng thời bãi bỏ thủ tục chứng nhận chuẩn công tác, xóa bỏ phân loại hàng đóng gói sẵn và thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng; làm rõ trách nhiệm quản lý phép đo chuyên ngành của các bộ và thẩm quyền kiểm tra giữa trung ương, cấp tỉnh, cấp xã. Qua đó, cắt giảm, đơn giản hóa 8 thủ tục hành chính, nhưng vẫn bảo đảm độ chính xác của phép đo, phòng chống gian lận thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Về quy định chuyển tiếp, các quyết định chỉ định, kết quả kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm đã cấp tiếp tục có hiệu lực. Các tổ chức đã đăng ký cung cấp dịch vụ có tối đa 6 tháng để hoàn thành công bố năng lực; bao bì đã in dấu định lượng được tiếp tục sử dụng trong thời hạn 24 tháng.

Việc thi hành Luật không làm phát sinh tổ chức, bộ máy, biên chế mới. Kinh phí thực hiện được bố trí trong dự toán chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng các nguồn hợp pháp khác. Dự án Luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.

Tái cấu trúc, đổi mới cách đánh giá các chương trình KHCN quốc gia- Ảnh 4.Giải bài toán phát triển Đồng bằng sông Cửu Long bằng khoa học công nghệ

SKĐS - Hợp tác phát triển khoa học công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long được các đơn vị triển khai, giải bài toán của vùng.





Ý kiến của bạn