(SKDS) - Sản giật
Sản giật là tai biến nguy hiểm thường gây tử vong cho thai và có thể gây nhiều biến chứng hay tử vong cho mẹ.
Tại sao sinh ra sản giật?
![]() Sản phụ cần được thăm khám và theo dõi chặt chẽ để phát hiện kịp thời tai biến sản giật. |
Đặc biệt, sản giật hay gặp ở những người còn trẻ, đẻ con so, người lao động nặng ít được nghỉ ngơi khi gần đẻ và hay xuất hiện vào mùa rét mỗi khi thời tiết thay đổi. Cơn sản giật có thể xảy ra trước, trong hay sau lúc chuyển dạ.
Các dấu hiệu nhận biết
Phòng ngừa sản giật
Sản giật là tai biến rất nguy hiểm cho mẹ và thai nhưng có thể phòng ngừa được nếu người cán bộ y tế hiểu rõ các nguyên nhân có thể gây ra bệnh và tuân theo các quy định về quản lý thai nghén.
Khi có thai, thai phụ cần đến trạm y tế và hộ sinh xã thăm khám thai định kỳ, ăn thức ăn bổ, có nhiều đạm, nhiều rau quả tươi và ăn ít muối; có chế độ lao động thích hợp, tránh làm việc nặng và cần nghỉ ngơi đúng chế độ trước khi đẻ. Về mùa rét, cần phải mặc ấm, tránh bị lạnh đột ngột.
Hướng dẫn xử trí tiền sản giật nặng và sản giật Xử trí tiền sản giật nặng: Tuyến xã: Chuyển tuyến trên; Trước khi chuyển, tiêm bắp chậm magnesi sulfat 15% 4g, thông tiểu. Tại các cơ sở khám chữa bệnh (bệnh viện) từ tuyến huyện trở lên: - Chăm sóc (chăm sóc cấp I): Đặt người bệnh nằm trong phòng yên tĩnh và ấm. Khuyên người bệnh nghỉ ngơi, nằm nghiêng trái thường xuyên; Theo dõi mỗi giờ: huyết áp, mạch, nhiệt độ, nhịp thở, nước tiểu và phản xạ gân xương tại đầu gối hay khuỷu tay; Định lượng protein niệu, hematocrit, đếm tiểu cầu mỗi ngày; Đánh giá chức năng gan, thận, rối loạn đông máu và tình trạng thai nhi bằng thử nghiệm không đả kích (non stress test). - Dinh dưỡng: cho chế độ ăn bệnh lý, nhiều rau quả tươi, nhiều protid (chất đạm), ít mặn. - Thuốc chống co giật: magnesi sulfat 15% liều khởi đầu 2-4gam tiêm tĩnh mạch thật chậm với tốc độ 1 gam/phút hoặc pha loãng trong dung dịch glucose truyền tĩnh mạch chậm. Sau đó cứ 1 giờ tiêm bắp sâu 1gam. Phải theo dõi phản xạ gân xương hàng ngày, đề phòng dùng quá liều magnesi sulfat. - Thuốc hạ áp: cho hydralazin 5mg tiêm tĩnh mạch chậm cho đến khi huyết áp tâm trương giảm xuống còn 100mmHg, có thể tiêm bắp nhắc lại nếu cần thiết. Nếu không có hydralazin thì dùng nifedipin 10mg ngậm dưới lưỡi. - Trong trường hợp điều trị nội khoa không kết quả thì chấm dứt thai kỳ để đảm bảo sức khỏe cho mẹ và cứu thai nhi nếu có thể. Xử trí sản giật: Tuyến xã, tuyến huyện: Chuyển tuyến tỉnh; Trước khi chuyển, tiêm bắp diazepam 10mg x 1ống để kiểm soát cơn giật, sau đó tiêm bắp chậm magnesi sulfat 15% 4g; Đặt sản phụ nằm nghiêng, ngáng miệng để không cắn phải lưỡi, thở oxy (nếu có); Ủ ấm, cố định người bệnh tốt trong khi di chuyển. Tại tuyến tỉnh: - Chăm sóc (chăm sóc cấp I): Đặt người bệnh nằm nghiêng trong phòng yên tĩnh và ấm; Ngáng miệng để tránh cắn vào lưỡi; Thở oxy; Theo dõi liên tục: huyết áp, mạch, nhiệt độ, nhịp thở, nước tiểu và phản xạ gân xương tại đầu gối hay khuỷu tay; Định lượng protein niệu, hematocrit, đếm tiểu cầu mỗi ngày; Đánh giá chức năng gan, thận, rối loạn đông máu và tình trạng thai nhi bằng thử nghiệm không đả kích (non stress test). - Dinh dưỡng: cho chế độ ăn bệnh lý, nhiều rau quả tươi, nhiều protid (chất đạm), ít mặn. - Thuốc chống co giật: magnesi sulfat 15% liều khởi đầu 2-4gam tiêm tĩnh mạch thật chậm với tốc độ 1gam/phút hoặc pha loãng trong dung dịch glucose truyền tĩnh mạch chậm. Sau đó, cứ 1 giờ tiêm bắp sâu 1 gam. Phải theo dõi phản xạ gân xương hàng ngày, đề phòng dùng quá liều magnesi sulfat. Duy trì 24 giờ sau cơn giật cuối cùng. - Tiếp tục cho thuốc hạ huyết áp cho đến khi huyết áp tâm trương giảm. - Nếu chuyển dạ: đẻ forceps khi đủ điều kiện, nếu không đủ điều kiện thì phẫu thuật lấy thai. - Nếu chưa chuyển dạ: Người bệnh không ổn định: phẫu thuật lấy thai sau khi cắt cơn giật; Người bệnh ổn định: Ở tuổi thai 28-34 tuần, điều trị corticoid (hoặc cho betamethason 12mg, tiêm bắp 2 liều cách nhau 24 giờ hoặc cho dexamethason 6 mg/lần, tiêm bắp 4 lần cách nhau 12 giờ), tiếp tục theo dõi trong 24 giờ rồi đình chỉ thai nghén bằng phẫu thuật lấy thai. Nếu thai nhi không có khả năng sống thì phẫu thuật lấy thai càng sớm càng tốt ngay khi tình trạng sản phụ cho phép; Tuổi thai trên 34 tuần thì phẫu thuật lấy thai càng sớm càng tốt. |
