Họ là những người dân tộc thiểu số, sớm giác ngộ cách mạng, trở thành những chiến sĩ anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Không ít người được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày thống nhất đất nước, trở về đời thường, họ vẫn giữ những phẩm chất tốt đẹp của người lính, người dân yêu nước.
Những con người dũng cảm
Để có nền độc lập hôm nay có sự đóng góp vĩ đại của những đồng bào, chiến sĩ, các cựu thanh niên xung phong, cựu dân công hỏa tuyến... Nhiều người đã không tiếc tuổi xuân, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, đối mặt hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Họ đã trở thành những tấm gương yêu nước tiêu biểu.
Anh hùng C’lâu Nâm.
Ngược lên xứ Lạng, được gặp lại Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND), người dân tộc Tày Nông Văn Nghi ở khu Dây Thép, thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn), nghe ông hồi tưởng và kể lại thời niên thiếu và làm chiến sĩ tháo gỡ bom mìn, tôi càng kính phục những người ở thế hệ ông, anh dũng kiên cường. Ông Nghi bị thất lạc gia đình từ nhỏ, được một người Tày ở thị trấn Đồng Đăng đưa về nuôi, lớn lên ông đi làm mướn nhiều nơi kiếm sống. Rồi ông được vận động đi dân quân, được giác ngộ và sau đó, năm 1962 Nông Văn Nghi nhập ngũ, thuộc Đại đội 217 - Tỉnh đội Lạng Sơn. Sau vài tháng, được cử đi học tháo gỡ bom mìn tại Thái Nguyên, kết thúc khóa học 3 ngày, ông về làm nhiệm vụ, bảo vệ thông cung đường tiếp viện từ cửa khẩu Tân Thanh đến Bắc Giang.
Cuối tháng 12/1964, Mỹ mở đợt ném bom đầu tiên vào huyện Hữu Lũng, Chi Lăng hòng đánh sập các cây cầu, ngăn đường tiếp tế của ta. Cầu gãy, đường hỏng, cả cánh đồng bị cày xới. Trong trận mưa bom, ông Nghi đếm được 60 quả bom đã nổ, 3 quả chưa nổ “án ngữ” trên đường đi. Phải làm sao vô hiệu hóa được chúng đây? Công việc thật sự khó khăn nhưng không thể chần chừ. Phải mau chóng thông đường để xe lên đường. Nghĩ và làm, ông Nghi đánh giá địa hình, kích thước quả bom, cộng với vốn kiến thức mình học được, ông đã tháo thành công quả bom đầu tiên. “Thú thật lúc đó tôi làm bằng cả cảm giác nữa. Tôi nhớ lại lời huấn luyện viên, nhẹ nhàng khoét đất tìm kíp. Tháo gỡ thành công rồi mới thở phào. Mồ hôi toát ra đầm đìa”, ông Nghi nhớ lại.
Trong nhiều Anh hùng LLVTND mà tôi được gặp, thì những tấm gương như ông C’lâu Nâm, ông Alăng Bhuốch, người dân tộc Cơ Tu ở Tây Giang (Quảng Nam), bà Hồ Kan Lịch và bà Kăn Đơm đều là người dân tộc Pa Kô ở A Lưới (Thừa Thiên Huế)... đều sáng ngời về ý chí cách mạng. Tuy mỗi người cùng một hoàn cảnh, một miền quê, song chung một khát vọng, tình yêu đất nước. Ông C’lâu Nâm tâm sự: “Nói chi những người như chúng tôi. Chúng ta có cả thế hệ của những anh hùng - dũng cảm đó. Khi Tổ quốc cần thì dốc hết sức mình để phục vụ...”.
Gian khó sinh... sáng kiến
Ông Alăng Bhuốch, ông Nông Văn Nghi và nhiều cựu chiến binh mà tôi từng may mắn được hỏi chuyện đều có chung ý kiến như vậy. Vâng, cái khó ló cái khôn, chính những giây phút mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, thì những người vốn chỉ quen tay cấy, tay cày, làm nương làm rẫy đã có nhiều sáng kiến. “Những năm tháng Mỹ liên tục ném bom hòng đánh phá cầu Sông Hóa. Qua làm nhiệm vụ ở thực tế, tôi đã rút ra kinh nghiệm và nghiên cứu thêm quy luật của các loại bom nổ chậm, bom từ trường, bom bi mà trước đó chưa từng được học. Mỗi quả bom đều có điểm mạnh, điểm yếu. Chỉ cần có mẹo là có thể khiến nó lành như cục đất”, ông Nghi chia sẻ.
Với sáng kiến chế ngự kíp nổ, tháo gỡ bom, ông Nghi đã vượt qua nhiều “ca khó”. Có ngày ông tháo gỡ thành công 13 quả mà không để xảy ra sự cố. Dám xông vào chốn hiểm nguy, với tổng cộng 54 trận bom trút xuống cung đường, ông Nghi đã tháo gỡ thành công hàng trăm quả các loại. Thời gian này, ông cũng được giao thêm nhiệm vụ dạy cách tháo gỡ bom, mìn cho nhiều cán bộ, dân công, thanh niên xung phong... Sau khi có kỹ năng, họ được cử làm nhiệm vụ trên khắp các tuyến đường ra mặt trận.
Nhắc đến những sáng kiến của người dân tộc, không thể không nhắc đến chiếc nỏ làm bằng cây P’nanh của già C’lâu Nâm và các du kích khu vực đại ngàn Trường Sơn. Đây là cây nỏ được mệnh là “bách phát bách trúng”, đi cùng với bà con dân tộc thiểu số nhiều trận đánh. Chiến thắng Bha Nân (năm 1960) ở Tây Nguyên, mà C’lâu Nâm đứng đầu, tiêu diệt và làm bị thương cả đại đội địch, khiến cho chúng khiếp hãi không dám ngông nghênh càn quét vào làng. Chiến thắng này mở đầu cho hàng loạt những chiến công sau này của C’lâu Nâm với những trận thắng đã trở thành huyền thoại vì tinh thần lấy ít thắng nhiều, lấy thô sơ thắng hiện đại. Từ đó, đồng bào Cơ Tu khắp vùng ca ngợi, noi gương ông, dùng nỏ, tích cực xông lên đánh giặc. Bản thân già C’lâu Nâm đã tham gia đánh gần 100 trận. Cho đến nay, tiếng vang của C’lâu Nâm còn vọng mãi như hương thơm của cánh hoa pơ-lang giữa rừng, người dân ở các huyện miền núi Đông Giang, Tây Giang vẫn tự hào.
Cũng đầy nghị lực, ông Alăng Bhuốch bị dính càn dẫn đến mù lòa cả hai mắt nhưng đã sáng kiến dùng gậy dẫn đường. Ngoài cây gậy, ông cũng tập cách sử dụng cảm giác để định hướng đường đi khi thiếu đôi mắt. Nhờ đó, ông vẫn nhập đoàn dân công hỏa tuyến với nguyện vọng sẽ góp phần vào việc vận chuyển lương thực, vũ khí ra chiến trường. Từ yếu điểm đã bật lên sức mạnh, đúng như lời ông nói: “Con mắt mình nằm ở đôi chân, ở cái cây gậy”. Ông kể lại: “Biết thế nào mình cũng chậm hơn anh em nên cố bước đều, luyện cho đôi vai, đôi chân quên mỏi và cả giảm bớt thời gian nghỉ ngơi để theo kịp đồng đội”. Cứ thế, bàn chân của người “chiến sĩ cách mạng” Alăng Bhuốc đều đặn vượt hàng chục km mỗi ngày với chiếc gùi cõng lương thực, vũ khí. Sau này, bà con trong vùng ca ngợi: “Trái tim Alăng Bhuốc như ngọn đuốc, mất đôi mắt, anh vẫn thấy đường”. Nhớ về thời oanh liệt, ông bộc bạch: “Nhà nước quan tâm, tặng tôi danh hiệu cao quý, tôi vô cùng trân trọng. Tôi cũng phải nói rằng, công sức của tôi có sự giúp đỡ của nhiều đồng đội. Nhiều đồng đội, bà con khác cũng xứng đáng”.

Anh hùng Nông Văn Nghi bên vợ.
Tiếp phần đời sáng đẹp
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước, nhiều anh hùng tiếp tục làm công tác xã hội, giữ các chức vụ trong đơn vị và địa phương. Cho đến khi nghỉ hưu, họ vẫn tham gia công tác xã hội tại địa phương, tích cực nhân lên bản lĩnh của người anh hùng, người lính Cụ Hồ. Không ít người có hoàn cảnh khó khăn, như anh hùng Kăn Đơm, nuôi đến 10 người con, nhưng bà vẫn gắng gỏi tham gia công tác xã hội, vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống.
Còn với anh hùng C’lâu Nâm, nhiều người ví ông như con thoi, làm hết việc này đến việc khác. Liên tục từ năm 1981 đến 2004, ông trải qua nhiều chức vụ từ Chủ tịch UBND xã đến Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tây Giang; luôn ủng hộ chủ trương đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện cho lớp cán bộ trẻ ở địa phương tiến bộ và trưởng thành. Đặc biệt, ông đã chủ trương cùng đồng bào xây dựng đời sống văn hóa mới, giúp từng bước xóa đói giảm nghèo. Năm 2005, sau khi nghỉ hưu, C’lâu Nâm được dân làng tín nhiệm bầu làm già làng, ông dốc sức bảo tồn văn hóa Cơ Tu, ông đi dạy bắn nỏ cho nhiều thanh niên tập luyện thể thao... Sự cần mẫn ở vị anh hùng tuổi cao càng khiến người dân nể phục. Ông Bh’riu Liếc - Bí thư Huyện ủy Tây Giang tự hào: “Đối với đồng bào Cơ Tu ở Tây Giang, già làng C’lâu Nâm được biết đến là tấm gương anh dũng trong kháng chiến và hết lòng vì sự phát triển và bảo tồn văn hóa của người dân trong vùng thời hiện đại”.
Chung tinh thần ấy, ông Nông Văn Nghi, sau hơn 33 năm trong quân ngũ, trở về đời thường, vẫn giữ trọn lối sống đạo đức, hết lòng vì mọi người. Ngoài tham gia Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, ông cũng tham gia nhiều chương trình từ thiện, làm gương, giáo dục con cháu tình yêu quê hương, đất nước.
Họ, những người con ưu tú, dũng cảm, đã viết nên những bài ca đẹp về lòng yêu nước. Để hôm nay, sau 40 năm đất nước thống nhất, đổi mới, bài ca ấy vẫn được ngân lên.
Tinh thần yêu nước nồng nàn là truyền thống quý báu của dân tộc. Ðể khi đất nước lâm nguy, thì mỗi người đều nhận lấy trách nhiệm, cùng thôi thúc nhau, cùng chung sức đồng lòng, kết thành sức mạnh. Và khi ấy, từ Bắc chí Nam, từ người miền xuôi đến người miền ngược, không kể đàn ông, phụ nữ, trẻ em, nhiều người đã làm tới 200% sức lực của mình, hướng đến ngày toàn thắng.
Bài, ảnh: Văn Học - Alăng Ngước