Sức khỏe và dược phẩm thời khủng hoảng

Thời sự
Ở Việt Nam, các số liệu từ cơ quan quản lý cho thấy, trong năm 2008, công nghiệp dược được xếp vào ngành có tỷ lệ tăng trưởng cao (trên 20%) trong khi một số ngành khác đã bắt đầu suy thoái.

Kỳ 2: Ngành dược Việt Nam có nằm ngoài tâm “bão”?       

Ở Việt Nam, các số liệu từ cơ quan quản lý cho thấy, trong năm 2008, công nghiệp dược được xếp vào ngành có tỷ lệ tăng trưởng cao (trên 20%) trong khi một số ngành khác đã bắt đầu suy thoái. Điều này phù hợp với nhận định của các nhà phân tích cho rằng trong thời kỳ khủng hoảng, có một số ngành kinh tế chịu tác động chậm hơn như sản xuất lương thực - thực phẩm và dược phẩm.

Cuối năm 2008, các dấu hiệu suy thoái trong lĩnh vực dược phẩm cũng đã bắt đầu lộ diện. Tháng 11/2008, Cục trưởng Cục Quản lý dược Việt Nam, TS. Trương Quốc Cường đã cảnh báo: “Ngành dược nước ta đang đứng trước nguy cơ giảm phát do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù giá nhập khẩu nguyên liệu giảm mạnh nhưng hàng nguyên liệu tồn kho giá cao còn nhiều nên thành phẩm sản xuất ra không bán được”. Cơ quan quản lý Nhà nước về dược phẩm cũng lo ngại, nguy cơ các doanh nghiệp sẽ phải thu hẹp sản xuất do kinh doanh không hiệu quả, không có tích lũy để tái đầu tư, nhiều dự án đầu tư mở rộng năng lực sản xuất cũng phải hoãn lại sẽ dẫn đến giảm nguồn cung ở những tháng cuối năm 2008, sang cả đầu năm 2009 và những năm tiếp theo.                     

Ngành dược cũng chịu tác động từ khủng hoảng kinh tế.
Ảnh: Trần Minh 

Trên quy mô toàn cầu, khi cơn bão khủng hoảng tràn qua khó có thể nói có một quốc gia nào và một ngành nào đứng ngoài vùng ảnh hưởng. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) nhận định: “Sự tàn phá của cơn bão khủng hoảng kinh tế đang lan rộng, chỉ trừ một số ít lĩnh vực như sản xuất lương thực, thực phẩm và dược phẩm là có vẻ ít bị ảnh hưởng”. Trong khi đó, các công ty dược phẩm lại cho rằng cuộc khủng hoảng sẽ tác động lâu dài đến công nghiệp dược phẩm trong khoảng từ 5 - 6 năm và sẽ bộc lộ hậu quả nặng nề là trong tương lai sẽ có sự thiếu hụt các dược phẩm mới vì trong thời kỳ khủng hoảng, các nhà sản xuất dược phẩm sẽ hạn chế đầu tư vào công tác nghiên cứu - phát triển thuốc mới, là một lĩnh vực rủi ro và ngốn rất nhiều chi phí đầu tư.

FED cũng nhắc đến một yếu tố khác ảnh hưởng đến thị trường dược phẩm là số bệnh nhân đến cơ sở y tế giảm và chi tiêu cho y tế cũng phải dè sẻn hơn. Các công ty dược phẩm đa quốc gia đã bắt đầu cắt giảm chi phí nghiên cứu, giảm lực lượng lao động, giảm chi phí sản xuất. Các hiện tượng nêu trên không chỉ xảy ra ở Hoa Kỳ và các nước công nghiệp. B.N. Singh, Chủ tịch Hiệp hội sản xuất dược phẩm Ấn Độ (IDMA) nói: “Nguồn tài chính đầu tư cho công tác nghiên cứu - phát triển của nhiều công ty dược Ấn Độ bị sụt giảm từ 8 - 10% trước đó chỉ còn 5 - 6% trong thời kỳ khủng hoảng. Các công ty xuất khẩu dược phẩm phải đối mặt với nguy cơ thanh toán chậm. Giá nguyên liệu và các chi phí sản xuất tăng trong khi giá trị nội tệ giảm. Tất cả các yếu tố này tác động tiêu cực không chỉ đối với các công ty có thứ hạng thấp mà đến cả các công ty dược hàng đầu. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các công ty dược phẩm Ấn Độ mua lại một số công ty dược ở Hoa Kỳ và các nước khác với giá cạnh tranh”. Công nghiệp dược Trung Quốc cũng không thể đứng ngoài cơn bão. Tháng 1/2009, Zhou Xiaoming, Chủ tịch Phòng Thương mại Xuất nhập khẩu dược phẩm và sản phẩm y tế (CCCMHPIE) Trung Quốc cho rằng, từ tháng 3/2009, khủng hoảng kinh tế sẽ tác động đến uy tín công nghiệp dược và chất lượng dược phẩm Trung Quốc.

     Thị trường dược phẩm Việt Nam được chia thành hai phân khúc chủ yếu: thuốc sản xuất trong nước chiếm khoảng 52% (2008) và thuốc nước ngoài (nguyên liệu, thuốc biệt dược và một số thuốc gốc) chiếm khoảng 48% (2008). Với thuốc sản xuất trong nước mà đa số là thuốc gốc, cơ chế cạnh tranh về giá và chính sách quản lý giá của Nhà nước trong những năm gần đây đã phần nào kiềm chế được sự tăng giá.

Công nghiệp dược Việt Nam đang phải đối đầu với “cơn bão” khủng hoảng kinh tế toàn cầu đồng thời với “cơn lũ” các tác động tiêu cực của quá trình mở cửa thị trường dược phẩm theo các cam kết quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu hơn sau khi gia nhập WTO. Khủng hoảng kinh tế kéo theo các hệ quả: thị trường thu hẹp, giá ngoại tệ tăng, giá nguyên liệu và yếu tố đầu vào tăng, giá thuốc sản xuất trong nước tăng và nhu cầu giảm... sẽ tác động xấu đến tính cạnh tranh của thuốc nội và hiệu quả hoạt động của các công ty dược nội địa. Mặt khác, việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO sẽ thúc đẩy sự hiện diện thương mại của các công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh mẽ hơn với thương hiệu nổi tiếng và thương quyền ngày càng được mở rộng, cùng với sự tháo dỡ các rào cản thương mại là một đòn “hồi mã thương” đối với công nghiệp dược nội địa. Hiện nay, còn quá sớm để dự báo sự phá sản của một số công ty dược phẩm trong nước, tuy nhiên trong cuộc vật lộn để duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm đời sống người lao động, các công ty dược không là ngoại lệ.

Tuy nhiên có một thực tế là sự cạnh tranh thiếu lành mạnh không dựa trên chất lượng thuốc mà chủ yếu dựa vào các “thủ thuật kinh doanh” đã làm cho các doanh nghiệp dược hướng vào chất lượng cảm thấy hụt hơi và nản lòng trong cuộc đua tranh hỗn độn này vì hiệu quả kinh doanh không tương xứng với số vốn đầu tư cho khoa học - công nghệ và chất lượng. Lòng tin của người tiêu dùng đối với thuốc nội cũng giảm sút. Tình hình này làm cho thuốc nội có khuynh hướng “giảm giá tương đối” nhưng kèm theo là mối lo về chất lượng. Số liệu của cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng cho thấy trong thời gian qua, tỷ lệ thuốc kém chất lượng và thuốc giả đang có xu hướng tăng trên thị trường Việt Nam.

Thuốc nước ngoài, mà chủ yếu là các sản phẩm độc quyền - nguyên liệu dược và biệt dược - chắc chắn sẽ liên tục tăng giá vì các lý do sau đây: (1) Là những thuốc “sống còn” mà bệnh nhân không thể không dùng, (2) Thị trường thuốc biệt dược nước ngoài tại Việt Nam là một “thị trường không hoàn hảo” do yếu tố độc quyền được bảo hộ bởi Luật sở hữu trí tuệ, không có sản phẩm cạnh tranh trong nước, (3) Dưới tác động của nhiều nguyên nhân, xu thế “chuộng thuốc ngoại” đang rất phổ biến trong người tiêu dùng và giới y khoa, (4) Quyền thương mại của các công ty dược phẩm nước ngoài được mở rộng sau khi Việt Nam gia nhập WTO và các rào cản bảo hộ thuốc trong nước từng bước được dỡ bỏ. Mặc dù vậy, các công ty dược phẩm đa quốc gia vẫn chưa bằng lòng với thời hạn sở hữu độc quyền 20 năm quy định trong Hiệp định TRIP’s. Hiện nay các công ty này đang ráo riết vận động hành lang để sửa đổi, bổ sung Hiệp định TRIP’s, yêu cầu tăng thời hạn độc quyền thêm 5 năm (từ 20 năm lên 25 năm) và bổ sung các điều khoản nghiêm ngặt hơn trong quy định về bảo mật thông tin đăng ký thuốc nhằm hạn chế tối đa tình trạng các nước đang phát triển sản xuất các phiên bản thuốc gốc giá rẻ, duy trì ngày càng lâu vị thế độc quyền và giá độc quyền của các biệt dược mới phát minh.

PGS.TS. Lê Văn Truyền
(Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế)

Ý kiến của bạn