Cơn “khát danh hiệu” của và cho hai di sản văn hóa từ cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV và từ tận thời đại Hùng Vương này, thế là đã dịu, nhưng lại gọi những nỗi niềm dậy lên, từ đờn ca tài tử Nam Bộ, hát chầu văn Nam Định, lễ hội và tín ngưỡng Đền Hùng, trường lũy Nam Trung Bộ… - những di sản đang ngấp nghé hoặc đã dấn thân “vào cuộc”.
Mải miết lo liệu “nhận danh hiệu” cho các di sản như thế và đang tưng bừng niềm vui vì đã “có danh hiệu” cho những di sản “vào cuộc” thành công, dường như - chẳng hạn, ngay trong trường hợp hát xoan Phú Thọ - cái sự thể người ta buộc kèm (liền) ngay với những chữ danh hiệu “Di sản văn hóa Thế giới” là những chữ (tính từ – chỉ tính chất của di sản): “cần được bảo vệ khẩn cấp” lại đang không mấy được nêu nhắc cho đủ đầy câu chữ và ý nghĩa của danh hiệu.
Thật ra, khi công nhận là Di sản văn hóa Thế giới, tổ chức UNESCO đã có những tiêu chí xét duyệt rất cẩn trọng và khoa học, để phân các di sản thành 2 loại là: Di sản tiêu biểu và di sản cần được bảo vệ khẩn cấp. Hát xoan - cũng như ca trù (được công nhận năm 2009) thuộc loại di sản cần… “cấp cứu” như thế này.
Nhưng cũng trong năm 2011, nhân “kỷ niệm” 2 năm được nhận danh hiệu đã có nhiều hình thức “kiểm điểm tình hình” của và cho ca trù. Có thể thấy rằng, tuy đã rất nhiều cố gắng và cũng đã có ít nhiều thành tựu, nhưng nhìn chung việc “cấp cứu” cho di sản cũng chỉ mới đạt được tới chỗ vầy vậy thôi.
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Ảnh: Nguyễn Thế Ðức |
Có tuổi muộn hơn một năm, sau khi ca trù được nhận danh hiệu thế giới là Hoàng thành Thăng Long. Di sản này, còn được cả danh hiệu “Di tích Quốc gia loại đặc biệt”, trước khi nhận danh hiệu thế giới. Nhưng đã hơn một năm sau ngày tưng bừng trọng thể đón bằng công nhận Danh hiệu Thế giới, trong dịp Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngay trên diện tích di sản đã khoanh (co) lại để làm hồ sơ trình UNESCO công nhận (chỉ bằng chưa đầy 1/5 diện tích thực), việc trả lại những chỗ bị đóng giữ, chiếm dụng vẫn chưa làm xong!
Đấy là tình hình của một số di sản đã được (có) danh hiệu, trong kho tàng hàng trăm nghìn di sản của dân tộc và đất nước, khối lượng báu vật khổng lồ này mới đang chính là nỗi niềm mừng tủi của mọi người.
Ai cũng biết: hàng trăm, hàng nghìn năm tinh kết công sức, niềm vui và nỗi buồn, cả xương máu nữa, các thế hệ tổ tiên, ông bà mới để lại được cho bây giờ những quốc hồn - quốc túy như thế, không những làm động lực mà còn là cả tảng nền cho sự tồn tại và phát triển của ngày nay và mai này.
Nhưng sự xuống cấp, thậm chí mai một cả phần lớn số của cải, tài nguyên này cũng đang là điều mà ai cũng biết. Cho nên mới diễn ra cùng một lúc hai mảng động thái. Một bên là cảnh người người âm thầm lặng lẽ giữ trong đầu hoặc thốt lên thành lời nơi cửa miệng câu “lực bất tòng tâm” mà đứng nhìn hoặc cứ thế mà đi qua những xuống cấp hoặc mai một của di sản. Còn bên kia, là những cảnh cứu chữa, giữ gìn, sửa sang, nâng cấp… di sản, mà thuật ngữ bảo tàng học gọi là: bảo tồn - tôn tạo (đối với các di sản văn hóa vật thể) và kế thừa - phát huy (đối với các di sản văn hóa phi vật thể).
Tuy nhiên, ở mảng động thái thứ hai này, những thành công chỉ mới đang được cho là đạt, ở mấy trường hợp: ngôi đình Chu Quyến, đô thị cổ Hội An,… còn đại trà là những trường hợp “biến di tích 200-300 năm tuổi thành di tích… 1 tuổi” mà nhiều người đã “trúng khẩu đồng từ”. Và đặc biệt là những dư luận trái chiều quanh các công trình dọn dẹp (bỏ) đi những di tích cũ để xây dựng thay vào đấy những nguy nga lộng lẫy, đồ sộ hoành tráng mới với những “kỷ lục”: to (nặng) nhất, cao (sang) nhất, rộng (nhiều) nhất…
Việc chăm chú, lo liệu cho di sản được (có) danh hiệu dường như cũng đang nằm chung trong phạm trù ý thức và thị hiếu với việc “lập kỷ lục” cho di sản như thế. Đã phải thốt lên mấy tiếng (tính từ) “háo danh”, khi Hạ Long được hai danh hiệu Di sản thế giới với những tiêu chí khoa học nghiêm ngặt, đích xác do tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc công nhận rồi vẫn ào ạt “tiếp thị” (với giá nhiều chục tỷ đồng) cùng một tổ chức tư nhân không mấy tiếng tăm, để được (có) thêm một danh hiệu “kỳ quan thế giới mới” nữa mà tiêu chí và phương thức tiến hành chỉ duy nhất là: “bầu chọn” (kèm phí)!
Xem ra, với những ứng xử kiểu như thế này với di sản văn hóa dân tộc, sức khỏe của kho tàng tài sản - tài nguyên vô giá mà tổ tiên, ông bà để lại cho ngày nay sẽ còn có nhiều vấn đề. Và vấn đề trước hết là ở cái văn hóa đang được ứng xử cho kho tàng di sản văn hóa ấy.
Nhà sử họcLê Văn Lan