Sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Đổi mới tư duy quản lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát

Y tế
SKĐS - Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi xây dựng 4 nhóm chính sách trọng tâm, đồng thời định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương.

Sau 16 năm thực thi, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu mới của thực tiễn. Việc sửa đổi Luật lần này hướng tới đổi mới phương thức quản lý, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý theo mức độ nguy cơ trên cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia, đồng thời phân định rõ trách nhiệm, khắc phục tình trạng phân tán trong quản lý nhà nước.

Từ kiểm soát nguy cơ trong toàn bộ chuỗi cung ứng, phân loại thực phẩm để áp dụng phương thức quản lý phù hợp đến xây dựng hệ thống dữ liệu và tăng cường hậu kiểm, các chính sách sửa đổi hướng tới nền quản lý chủ động, hiện đại, lấy phòng ngừa làm trọng tâm.

Thông tin với báo chí sáng 23/10, đại diện lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm - Bộ Y tế cho biết, thực tế, nguy cơ mất an toàn thực phẩm có thể phát sinh ở bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, vấn đề không chỉ là kiểm tra sản phẩm có an toàn hay không, mà còn phải xác định nguy cơ xuất hiện ở đâu, từ khâu nào, ai chịu trách nhiệm và khả năng truy xuất, khoanh vùng, xử lý sự cố nhanh đến đâu.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật xây dựng 4 nhóm chính sách trọng tâm, đồng thời định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương.

Sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Đổi mới tư duy quản lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát- Ảnh 1.

Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, TS.DS Chu Quốc Thịnh cho biết dự thảo Luật An toàn thực phẩm xây dựng 4 nhóm chính sách trọng tâm, đồng thời định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương.  Ảnh: Trần Minh

Kiểm soát nguy cơ xuyên suốt chuỗi cung ứng thực phẩm

Một trong những định hướng quan trọng của dự thảo là quản lý an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng, từ sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ đến sơ chế, chế biến, kinh doanh và lưu thông trên thị trường.

Dự thảo quy định kiểm soát các mức tồn dư thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và tác nhân gây ô nhiễm trong thực phẩm sau thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ; quy định điều kiện đối với một số nhóm cơ sở sản xuất thực phẩm; áp dụng phương thức quản lý theo từng nhóm thực phẩm và tăng cường giám sát, hậu kiểm trong quá trình lưu thông.

Điểm đáng chú ý là an toàn thực phẩm được kiểm soát ngay từ khâu đầu vào, thay vì chờ đến khi sản phẩm ra thị trường mới phát hiện nguy cơ. Các quy định về nguyên liệu, thực phẩm sau thu hoạch, đánh bắt, khai thác, giết mổ và điều kiện sản xuất, kinh doanh sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng.

Cách tiếp cận này cũng hướng tới khắc phục tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý, trong đó có lĩnh vực sản xuất ban đầu. Việc kiểm soát từ nguyên liệu, giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia và chất hỗ trợ chế biến đến khâu sơ chế, chế biến, phân phối và tiêu dùng cần được thực hiện đồng bộ, rõ trách nhiệm.

Thay vì kiểm soát dàn trải, dự thảo hướng tới phân loại thực phẩm và xác định nhóm cần ưu tiên quản lý theo nguy cơ. Phương thức này vừa kế thừa các quy định hiện hành, hạn chế chồng chéo trong hệ thống pháp luật, vừa hướng tới thông lệ quốc tế và quản lý khoa học, hiện đại.

Khi trách nhiệm được phân định rõ và biện pháp quản lý phù hợp với từng nhóm thực phẩm, tổ chức, cá nhân có thể chủ động hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời phải chịu trách nhiệm cao hơn về an toàn sản phẩm. Việc tăng cường giám sát thực phẩm khi lưu thông cũng góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực kiểm tra của Nhà nước.

Cải cách phương thức quản lý, tăng cường hậu kiểm

Nếu chính sách thứ nhất tập trung kiểm soát nguy cơ từ đầu chuỗi, chính sách thứ hai hướng tới đổi mới phương thức quản lý sản phẩm trong toàn bộ vòng đời, đặc biệt là hoạt động kiểm tra, giám sát khi thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Theo dự thảo, phương thức quản lý được lựa chọn phù hợp với từng nhóm thực phẩm. Hầu hết sản phẩm thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng theo hình thức tự công bố và được hậu kiểm trên thị trường. Sau khi nộp hồ sơ công bố theo đúng quy định, tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm.

Trong khi đó, một số nhóm thực phẩm có tính chất đặc thù, liên quan đến khuyến cáo sức khỏe cộng đồng, có quy trình sản xuất phức tạp hoặc dành cho nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người bệnh sẽ thuộc diện đăng ký bản công bố sản phẩm.

Dự thảo xây dựng theo hướng hạn chế phát sinh nhóm sản phẩm phải đăng ký so với quy định trước đây, tránh gây xáo trộn trong quá trình thực thi của doanh nghiệp. Các nhóm sản phẩm dự kiến phải đăng ký công bố không có nhiều thay đổi so với quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, đồng thời được xây dựng trên cơ sở tham khảo thông lệ quốc tế. Đối với thực phẩm không tiêu chuẩn hóa, có vòng đời ngắn như thực phẩm tươi sống, rau, củ, quả, dự thảo định hướng miễn đăng ký bản công bố và miễn công bố sản phẩm, phù hợp thực tiễn.

Để tránh gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh, dự thảo quy định các sản phẩm đã được phê duyệt theo pháp luật hiện hành tiếp tục sử dụng giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm đã cấp hoặc bản tự công bố sản phẩm. Trong thời hạn chuyển tiếp tối đa 36 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực, cơ sở có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ, cập nhật dữ liệu trên hệ thống chuyên ngành về an toàn thực phẩm để phục vụ hậu kiểm, đồng thời lưu trữ hồ sơ tại cơ sở và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.

Đối với hậu kiểm, dự thảo dành một mục riêng quy định đối tượng, nguyên tắc, biện pháp, trách nhiệm của đoàn kiểm tra và tần suất kiểm tra trên thị trường. Các biện pháp xử lý được tăng cường, gồm thu hồi giấy đăng ký bản công bố sản phẩm, gỡ bỏ hồ sơ công bố tiêu chuẩn sản phẩm, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm và thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn.

Dự thảo cũng quy định các tổ chức thử nghiệm của Nhà nước tham gia lấy mẫu thực phẩm trên thị trường để hỗ trợ giám sát cùng cơ quan chức năng; khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội ngành hàng và người dân tham gia giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Hoạt động kiểm tra được định hướng dựa trên dữ liệu thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm kết quả đánh giá nguy cơ, dữ liệu kiểm nghiệm, thông tin sự cố mất an toàn thực phẩm, kết quả giám sát và lịch sử tuân thủ của cơ sở. Qua đó, nguồn lực kiểm tra có thể tập trung hơn vào những sản phẩm, cơ sở có nguy cơ cao.

Xây dựng hệ thống dữ liệu an toàn thực phẩm liên thông

Để quản lý theo nguy cơ và hậu kiểm hiệu quả, dự thảo xác định số hóa, xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông là một chính sách trọng tâm.

Mục tiêu là từng bước thực hiện quản lý an toàn thực phẩm dựa trên dữ liệu số, kết nối thông tin từ Trung ương đến địa phương và giữa các bộ, ngành. Hệ thống sẽ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính, phân tích nguy cơ, phòng ngừa và xử lý sự cố, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo nhanh cũng như kiểm tra thực phẩm lưu thông trên thị trường.

Theo định hướng của dự thảo, hệ thống thông tin cần có dữ liệu về cơ sở kinh doanh thực phẩm và vòng đời sản phẩm, từ sản xuất ban đầu đến sơ chế, chế biến, kinh doanh, lưu thông và tiêu dùng. Việc phân quyền truy cập cho cơ quan quản lý theo lĩnh vực được phân công giúp các đơn vị chủ động phân tích nguy cơ, phối hợp xử lý và truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố.

Dữ liệu an toàn thực phẩm được định hướng kết nối với dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, dữ liệu sản xuất ban đầu và ứng dụng công nghệ nhận diện điện tử để theo dõi hành trình thực phẩm. Khi phát sinh sự cố, cơ quan chức năng có thể nhanh chóng xác định nguồn cung, khoanh vùng sản phẩm liên quan và triển khai biện pháp xử lý phù hợp.

Số hóa vì thế không chỉ nhằm lưu trữ thông tin mà còn phục vụ phản ứng nhanh, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao hiệu quả giám sát. Việc minh bạch dữ liệu cũng tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin về tình trạng vi phạm hoặc sự cố an toàn thực phẩm theo quy định.

Siết quản lý thức ăn đường phố, suất ăn tập thể và kinh doanh trực tuyến

Sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Đổi mới tư duy quản lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát- Ảnh 2.

hải phòng tăng cường kiểm tra an toàn thực phẩm thức ăn đường phố. Ảnh TS-ML

Thức ăn đường phố và các cơ sở cung cấp suất ăn tập thể là những mắt xích có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng do phục vụ số lượng lớn người tiêu dùng, đặc biệt tại trường học và các cơ sở tập trung đông người. Vì vậy, dự thảo dành một nhóm chính sách riêng nhằm giảm thiểu các vụ ngộ độc thực phẩm từ những loại hình này.

Các quy định được định hướng tăng trách nhiệm của người kinh doanh thức ăn đường phố, đơn vị cung cấp suất ăn tập thể và tổ chức bếp ăn tập thể không nhằm mục đích kinh doanh, trong đó có bếp ăn của lực lượng công an, quân đội. Đồng thời, chính quyền địa phương được tăng cường trách nhiệm quản lý, giám sát và phối hợp liên ngành đối với hoạt động kinh doanh thực phẩm trên địa bàn.

Theo định hướng phân công, Bộ Y tế xây dựng, sửa đổi, bổ sung và trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, hướng dẫn quản lý đối với bếp ăn tập thể, nhà hàng, cơ sở dịch vụ ăn uống và kinh doanh thức ăn đường phố. UBND cấp tỉnh và cấp xã chịu trách nhiệm quản lý theo thẩm quyền, phân cấp, trong đó chú trọng các cơ sở nhỏ lẻ, dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố và an toàn thực phẩm tại chợ.

Cách tiếp cận này hướng tới tăng trách nhiệm của cả người kinh doanh và cơ quan quản lý, đồng thời duy trì môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Một nội dung đáng chú ý khác là quản lý an toàn thực phẩm trên môi trường thương mại điện tử và nền tảng số. Dự thảo hướng tới quy định rõ trách nhiệm của người bán, chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian và cơ sở giao đồ ăn trực tuyến, bảo đảm trách nhiệm an toàn thực phẩm xuyên suốt từ sản xuất, chế biến, lưu thông truyền thống đến bán hàng và giao hàng trực tuyến.

Hoàn thiện bộ máy quản lý, thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương

Cùng với đổi mới phương thức quản lý, dự thảo định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho UBND các cấp.

Theo định hướng được nêu trong dự thảo, tại Trung ương, Bộ Y tế là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Ở cấp tỉnh, các Chi cục An toàn thực phẩm được định hướng thực hiện công tác quản lý; tại cấp xã, cơ quan chuyên môn về văn hóa, xã hội thuộc UBND cấp xã là đầu mối thực hiện chức năng quản lý, với công chức có chuyên môn đảm nhiệm.

Dự thảo quy định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và cấp xã trong quản lý, kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm trên địa bàn, đặc biệt đối với thức ăn đường phố và cơ sở cung cấp suất ăn tập thể. UBND cấp tỉnh có thể tiếp tục phân cấp, ủy quyền cho cơ quan chuyên môn cấp dưới và UBND cấp xã căn cứ năng lực, đặc thù địa bàn và yêu cầu quản lý.

Việc phân cấp phù hợp được kỳ vọng giúp giảm tình trạng dồn ứ thủ tục ở cấp tỉnh, tăng khả năng giám sát sát thực tế và xử lý sự cố kịp thời, đồng thời làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan.

Sửa đổi Luật An toàn thực phẩm lần này hướng tới chuyển từ phương thức quản lý nặng về thủ tục sang quản trị dựa trên nguy cơ, dữ liệu và trách nhiệm. 

Mục tiêu không chỉ là phát hiện vi phạm sau khi xảy ra, mà còn nhận diện nguy cơ sớm, kiểm tra đúng trọng tâm, truy xuất nhanh và xử lý kịp thời. Đây là nền tảng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ sức khỏe người dân và xây dựng hệ thống an toàn thực phẩm chủ động, minh bạch, hiện đại hơn.

Sửa đổi Luật An toàn thực phẩm: Đổi mới tư duy quản lý, nâng cao hiệu quả kiểm soát- Ảnh 3.Bộ Y tế từng bước chuẩn bị nền tảng triển khai quản lý dựa trên trên phân tích nguy cơ tại dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)

SKĐS - Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) dự kiến được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, diễn ra từ ngày 17/10 - 20/11/2026.

Ý kiến của bạn