Sự thật đằng sau công nghệ truyền máu cứu người

25-01-2010 08:10 | Thời sự
google news

Ca truyền máu thành công đầu tiên được thực hiện trong Thế chiến thứ nhất. Cho đến nay, liệu pháp y học kỳ diệu này đã cứu sống hàng triệu sinh mạng và trở thành công nghệ được ứng dụng phổ biến nhất

Ca truyền máu thành công đầu tiên được thực hiện trong Thế chiến thứ nhất. Cho đến nay, liệu pháp y học kỳ diệu này đã cứu sống hàng triệu sinh mạng và trở thành công nghệ được ứng dụng phổ biến nhất ở tất cả các bệnh viện trên thế giới. Tuy nhiên ít ai biết được rằng, để có thành công ấy, con người đã mất hàng trăm năm nghiên cứu và thử nghiệm với liên tiếp những thất bại phải trả giá bằng không ít mạng người.

Cuộc thử nghiệm kéo dài hơn 400 năm

Theo y văn thế giới, ca truyền máu cho con người đầu tiên được ghi nhận vào năm 1492. Khi đó người ta đã ý thức được rằng, máu là một chất lỏng đặc biệt để nuôi sống cơ thể, tiếp thêm máu là tiếp thêm sức mạnh. Chính vì thế, một bác sĩ đã đề nghị hồi sức cho Giáo hoàng Innocent VIII đang hấp hối bằng cách lấy máu của một người khỏe mạnh trẻ tuổi truyền vào cơ thể giáo hoàng. Sau ba lần truyền với cái giá phải trả là sinh mạng của ba thanh niên, nhưng giáo hoàng vẫn chết. Lần thất bại đầu tiên với Giáo hoàng Innocent VIII đã khiến cho không ai còn dám nghĩ đến việc áp dụng cách này để hồi sức cho người bệnh nữa.

Cho đến năm 1616, nhà sinh lý học người Anh William Harvey đã phát hiện ra sự tuần hoàn của máu và chính tim đã làm nhiệm vụ đẩy máu đi nuôi các bộ phận của cơ thể. Đây được coi là một cuộc cách mạng bởi lúc bấy giờ, quan điểm của các nhà y học cổ đại vẫn còn đóng vai trò chủ đạo. Họ cho rằng máu do gan tạo ra, được tim hâm nóng khi chui từ tâm thất phải sang tâm thất trái. Phát hiện này đã làm sống lại ý tưởng truyền máu để hồi sinh và tăng cường sức mạnh cho con người trong giới y khoa. Nhiều thầy thuốc đã thử tiêm máu vào cơ thể động vật và họ đã thành công.

Ngày 15/6/1667, sau nhiều lần thử nghiệm thành công trên súc vật, thầy thuốc của vua Louis XIV, Jean Baptiste Denis quyết định thử nghiệm truyền máu cho người. Ông lấy máu của một con cừu non truyền cho chàng thanh niên Antoine Mauroy mắc bệnh điên bằng cách nối động mạch cảnh của con vật vào tĩnh mạch của người bệnh. Sau hai giờ truyền máu, mọi chuyện vẫn tốt đẹp, nhưng đến lần kế tiếp thì Antoine qua đời. Các lần thử nghiệm tiếp theo của Denis đều thất bại. Mặc dù vậy, người ta vẫn tin rằng việc bổ sung thêm máu cho con người có thể giúp tăng cường sức khỏe, chữa được nhiều bệnh và cải lão hoàn đồng, có lẽ còn sai sót nào đó trong quá trình thực hiện. Nhiều cuộc thử nghiệm vì thế vẫn ngấm ngầm được tiến hành, khiến cho không ít cái chết vì truyền máu xảy ra. Ba năm sau đó, Tòa án tối cao Pháp đã phải ban hành sắc lệnh cấm truyền máu.

Trong suốt hơn 100 năm tiếp theo, vấn đề truyền máu gần như bị quên lãng. Đến năm 1818, thầy thuốc sản khoa người Anh James Blundell đã chế tạo ra một dụng cụ đặc biệt có thể truyền máu thẳng từ người cho sang người nhận, giảm thiểu được những biến đổi vật lý. Mặc dù Blundell chưa chứng minh được ích lợi của truyền máu nhưng công trình của ông đã kích thích các thầy thuốc tiếp tục thử nghiệm liệu pháp này. Tuy nhiên, chỉ một số ít ca truyền máu diễn ra an toàn, đa phần còn lại có biểu hiện sốt, nôn mửa, nhức đầu, thậm chí tử vong vì bị sốc máu. 

Ánh sáng cuối đường hầm

Những tưởng sau hàng loạt thất bại, con người sẽ từ bỏ hẳn ý định lấy máu truyền vào cơ thể người. Nhưng thật bất ngờ, năm 1900, BS. Karl Landsteiner làm việc tại Viện bệnh lý học Vienna tuyên bố đã phát hiện ra sự khác biệt trong thành phần máu của mỗi người và lập nên hệ thống các nhóm máu ABO. Phát minh của Landsteinerđã giải thích được nguyên nhân của các tai biến trong truyền máu giữa người với người. Đó là do tính không tương thích giữa các loại máu, ngay cả trong cùng một loài cũng xảy ra hiện tượng ngưng kết khi đem trộn hồng cầu của cá thể này với huyết tương của cá thể khác.

 Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Những chấn thương khủng khiếp đe dọa tính mạng con người. Y học một lần nữa lại tìm đến liệu pháp truyền máu như một cứu cánh. Tuy nhiên, các thầy thuốc lúc này đã bắt đầu lưu tâm đến việc chọn những người thích hợp để lấy máu. Họ hiểu rằng, chỉ giữa những người có cùng nhóm máu mới có thể nhận máu của nhau và chỉ khi chọn được "người cho thích hợp" thì truyền máu mới thành công.

Quả thật, điều kỳ diệu đã đến với một hạ sĩ người Pháp tên là Henri Legrain. Đó là vào năm 1919, Henri bị thương ở chiến trường và mất rất nhiều máu. Anh được chở đến Bệnh viện Biarritz. Tình thế hết sức tuyệt vọng, các bác sĩ chỉ còn cách tiếp thêm máu mới mong cứu sống anh. Người tình nguyện hiến máu là Isidore Colas, bạn cùng phòng của Henri. Người ta cắt mạch máu của cả hai rồi nối bằng một cái ống. Đó là lần truyền máu cho người thành công đầu tiên trên thế giới. Cùng năm đó, các bác sĩ thực hiện 44 cuộc truyền máu thành công khác.

 Năm 1923, tại Bệnh viện Saint-Antoine, Paris, BS. Arnault Tzanck mở trung tâm truyền máu đầu tiên. Trong vòng một năm, số người chết vì mất máu đã giảm 10 lần. Kết quả này đã thúc đẩy các nhà khoa học tiếp tục cải tiến và hoàn thiện kỹ thuật truyền máu.

 Mô phỏng hình ảnh truyền máu của y học cổ đại.

Những khám phá cuối cùng về máu

Năm 1927, Landsteiner cùng với Levine phát hiện thêm 4 loại kháng nguyên của hồng cầu là M, N, P và p.  Năm 1930, Landstainer được trao giải thưởng Nobel vì công lao nghiên cứu các đặc điểm của máu người. Tiếp theo, năm 1940, Landsteiner và Wiener phát hiện kháng nguyên Rh. Phát hiện này là mốc son thứ hai, sau phát hiện hệ thống ABO trong lịch sử truyền máu. Nhờ hệ thống Rh, chúng ta có thể giải thích một số phản ứng nhiều khi rất nghiêm trọng trong truyền máu hoàn toàn phù hợp về hệ ABO.

 Tuy nhiên, đến tận lúc này, hiệu quả của việc chữa trị bằng truyền máu vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Mãi đến khoảng giữa hai trận thế chiến, Emnanuel Hadon - giáo sư sinh lý học tại Montpellier (Pháp) mới có được lý giải minh bạch. Ông chứng minh hồng cầu tăng viện đã khôi phục ngay hoạt động thở và cung cấp đủ ôxy cho các trung tâm thần kinh để ngăn chặn cái chết. Trong suốt Thế chiến thứ hai, hàng ngàn sinh mạng chiến binh đã được cứu sống nhờ truyền máu. Sau chiến tranh, cách truyền máu từ tay này sang tay khác được thay thế bằng các chai máu. Máu tươi có thể được trữ đông đến 21 ngày. Năm 1949, việc huy động máu dân sự ra đời. Các trung tâm truyền máu được thành lập ở nhiều nơi. Người ta còn tổ chức những nhóm lưu động để thu thập máu.

Đầu thập niên 1980, các sản phẩm máu đã được trữ đông, sấy khô và người ta có thể tự hòa tan bột máu khô với nước cất trước khi tự bơm cho mình.

Năm 2004, lần đầu trên thế giới, GS. Luc Douay (Bệnh viện Armand Trousseau) đã sản xuất thành công hồng cầu nhân tạo với số lượng lớn và đạt chuẩn. Năm 2009, giới khoa học tuyên bố đã thành công trong việc sản xuất máu nhân tạo trong phòng thí nghiệm từ các tế bào gốc. Vậy là, sau hơn 4 thế kỷ kể từ khi ý tưởng truyền máu ra đời, việc truyền máu đã trở thành một kỹ thuật cao, cho phép ngành giải phẫu và y học phát triển mạnh và hàng ngày hàng giờ đã cứu sống không biết bao nhiêu người. 

            Trung Lê (Theo Science Daily)


Ý kiến của bạn