(SKDS) - “Sống và làm việc theo pháp luật” không chỉ là quan hệ giữa các công dân trong một quốc gia mà còn là quan hệ giữa các quốc gia với quốc gia vì sự bình đẳng, chủ quyền, tôn trọng lẫn nhau để gìn giữ hòa bình, ổn định và tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Về biển đảo, hầu hết các nước trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, Trung Quốc và các nước Đông Á, Đông Nam Á đã thống nhất quan niệm về ranh giới của vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa được thể hiện trong Công ước về Luật Biển 1982 và đều tham gia ký kết công nhận.
Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982 là cơ sở pháp lý để các quốc gia ven biển bảo vệ quyền quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của mình. Do vị trí địa lý, có thể các vùng biển theo quy định của các quốc gia có thể chồng lấn nhau thì Công ước về Luật Biển 1982 cũng là cơ sở để giải quyết một cách công bằng và hữu nghị.
Nước ta có bờ biển dài hơn ba ngàn cây số với rất nhiều đảo, quần đảo đã phát triển kinh tế biển đóng góp lớn vào nền kinh tế chung của đất nước. Việt Nam đã trở thành thành viên Công ước Luật Biển 1982 từ năm 1994. Ngày 21/6 vừa qua, Quốc hội nước CHXHCNVN đã thông qua Luật Biển của Việt Nam quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo dựa theo Công ước Luật Biển 1982 đã đáp ứng lòng mong mỏi của toàn dân và được bạn bè trên thế giới hoan nghênh, ủng hộ. Luật Biển Việt Nam sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo. Ngư dân ta ra khơi vững tin hơn khi hành nghề trên vùng biển của Tổ quốc mình. Luật cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới.
Với tất cả sự thận trọng và khoa học, Luật Biển của Việt Nam được bắt đầu xây dựng từ năm 1998 trên cơ sở các quy định của Công ước Luật Biển 1982 của Liên hợp quốc, có tham khảo các thông lệ quốc tế, trong đó có thực tiễn của các nước và yêu cầu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng của Việt Nam và nay đã được công bố. Nội dung Luật ngoài những quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo của Việt Nam còn là thông điệp quan trọng gửi tới toàn thế giới của một đất nước có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, quyết tâm phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.
Với những tranh chấp xảy ra trên biển, đảo của Việt Nam, nội dung Luật khẳng định chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thể hiện ý chí độc lập, tự chủ và đoàn kết hữu nghị với láng giềng vốn là truyền thống từ lâu đời của dân tộc. Luật cụ thể hơn đã xác định được các vùng biển và quy chế pháp lý cho từng vùng biển của Tổ quốc. Luật quy định rõ quyền và trách nhiệm của các tàu thuyền nước ngoài đi qua vùng biển quốc gia và là cơ sở để các lực lượng chức năng có biện pháp xử lý trong trường hợp tàu nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam và quốc tế trên vùng biển của Việt Nam.
Minh bạch, công khai trong Luật Biển của Việt Nam được thế giới đồng tình là vì vậy, khác với Trung Quốc dù tham gia ký Công ước Luật Biển 1982 nhưng vẫn tự có thêm luật riêng với cái đường ranh giới biển hình lưỡi bò không hề có cơ sở. Đến cái “lệ” là tự đặt ra lệnh cấm đánh bắt cá trên biển Đông thuộc “nhà” khác từ 16/5 tới 1/8/2012 mà họ cũng vi phạm cái “lệ” ngang ngược của chính họ khi hàng đoàn tàu cá Trung Quốc có tàu ngư chính yểm hộ tới Bãi cạn Scarborough trên biển Đông hoặc 30 tàu cá cũng có tàu ngư chính đi kèm tới vùng biển Trường Sa của Việt Nam cách bờ biển Trung Quốc hàng ngàn cây số.
Sống và làm việc theo pháp luật là phương châm sống và hành xử của mọi công dân, mọi quốc gia văn minh trên trái đất này. Trái phương châm ấy thì dù là ai, quốc gia nào với những tính toán, tham vọng ra sao chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại và sự cô độc giữa một thế giới tiến bộ.
Lê Quý