PGS.TS Nguyễn Trọng Hưng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho rằng, dinh dưỡng học đường cần được nhìn nhận như một phần quan trọng của chiến lược phòng bệnh từ sớm, góp phần xây dựng nền tảng thể lực và trí lực cho trẻ em. Khi được tổ chức khoa học, bữa ăn học đường không chỉ bảo đảm năng lượng và dưỡng chất cần thiết cho quá trình phát triển mà còn giúp hình thành thói quen ăn uống lành mạnh ngay từ nhỏ. Dinh dưỡng học đường cũng là giải pháp góp phần giảm "gánh nặng kép" về dinh dưỡng, khi trẻ em vừa có nguy cơ thiếu chất, suy dinh dưỡng, vừa đối mặt với tình trạng thừa cân, béo phì và các hệ lụy sức khỏe liên quan. Vì vậy, thực đơn tại trường cần hướng tới sự cân đối, an toàn, phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng theo lứa tuổi, đồng thời hạn chế thực phẩm không có lợi cho sức khỏe.
Thực tế, suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và thừa cân, béo phì đang cùng tồn tại ở trẻ em Việt Nam và cần được giải quyết đồng thời. PGS.TS Bùi Thị Nhung, Phó chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Trưởng Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho biết ở những vùng khó khăn, suy dinh dưỡng thấp còi vẫn cần được ưu tiên nguồn nhân lực và kinh phí; trong khi tại các đô thị lớn, thừa cân, béo phì đang tăng rất nhanh.
Theo chuyên gia, đã đến lúc phải có luật về dinh dưỡng học đường để đảm bảo trẻ được tiếp cận dinh dưỡng hợp lý, cân bằng ở các vùng miền.
Bức tranh này được phản ánh qua kết quả tổng điều tra dinh dưỡng 2019 - 2020 của Viện Dinh dưỡng cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ học đường từ 5-19 tuổi còn 14,8% . Đáng lưu ý, sau 10 năm tỉ lệ thừa cân, béo phì tăng từ 8,5% (năm 2010) lên 19%, trong đó khu vực thành thị là 26,8%, khu vực nông thôn là 18,3%.
Thừa cân, béo phì gia tăng không chỉ là câu chuyện của riêng Việt Nam. Tại một hội nghị khu vực châu Á - Thái Bình Dương về phòng chống gánh nặng kép dinh dưỡng cho trẻ em năm 2014, các chuyên gia nhận thấy ở Châu Á trong khi tình trạng suy dinh dưỡng có xu hướng giảm thì tỷ lệ thừa cân, béo phì có xu hướng tăng.
PGS.TS Bùi Thị Nhung cho biết, Nhật Bản là quốc gia tiêu biểu đã kiểm soát được cả tình trạng thừa dinh dưỡng và thiếu dinh dưỡng tại trường học. Sau khi chấm dứt chiến tranh năm 1946, năm 1953 Nhật Bản đã thử nghiệm và 1954 đã ban hành Luật Bữa trưa Học đường. Khi xây dựng luật, Nhà nước phải đồng thời có cơ chế hỗ trợ để luật có thể đi vào cuộc sống. Cần có cơ chế hỗ trợ trường học bảo đảm cơ sở vật chất, nhân lực, mức thu, nguồn thực phẩm và các điều kiện cần thiết khác.
Tại Việt Nam, Mô hình điểm "Bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam" là một trong những mô hình tiêu biểu, do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế (Viện Dinh dưỡng) cùng các chuyên gia độc lập trong nước và quốc tế triển khai, với sự khởi xướng và đồng hành của Tập đoàn TH. Chương trình được thực hiện thí điểm trong năm học 2020-2021 tại 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái lớn trên cả nước. Trong Mô hình điểm, bữa ăn học đường được tiếp cận theo hướng ưu tiên sử dụng thực phẩm từ tự nhiên, dựa trên lợi thế về nông nghiệp của vùng miền; sữa tươi được đưa vào cấu phần bữa ăn một cách khoa học: một tuần 5 ngày có ly sữa tươi nguyên chất, cùng một bộ 400 thực đơn; đồng thời học sinh được khuyến khích vận động tối thiểu 60 phút mỗi ngày.
Sau một năm triển khai, Mô hình điểm đã có những kết quả vượt trội so với các chỉ tiêu đặt ra ban đầu: cải thiện thể chất, giảm suy dinh dưỡng và thừa cân, đồng thời nâng cao khả năng tập trung, tinh thần kỷ luật và sự tự tin cho trẻ. Mô hình được đánh giá là giải pháp toàn diện, mang tính cách mạng về nâng cao tầm vóc người Việt. Những kết quả này chính là cơ sở khoa học để xây dựng chính sách dinh dưỡng học đường gắn với giáo dục toàn diện.
Học sinh ăn bán trú trong Mô hình điểm "Bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam".
Việc xây dựng chính sách này càng cần thiết khi xét đến hệ lụy lâu dài của thừa cân, béo phì: trẻ thừa cân, béo phì có thể gia tăng nguy cơ trở thành người trưởng thành thừa cân, béo phì trong tương lai, kéo theo tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây nhiễm. Đây không chỉ là vấn đề sức khỏe cá nhân mà còn là gánh nặng bệnh tật lâu dài cho xã hội. Do đó, ưu tiên trong dinh dưỡng học đường phải bao gồm cả bữa ăn học đường, giáo dục dinh dưỡng, giáo dục thể chất và sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường.
Để dinh dưỡng học đường thực sự phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Đây không chỉ là câu chuyện của một bữa ăn mà là đầu tư cho sức khỏe, tầm vóc và chất lượng nguồn nhân lực tương lai.
Theo PGS.TS Bùi Thị Nhung "Cơ thể con người cần hơn 40 loại chất dinh dưỡng và không có một thực phẩm nào có ưu thế về tất cả các chất. Vì vậy, sự đa dạng trong bữa ăn là yêu cầu quan trọng"
Trong Mô hình điểm bữa ăn học đường, một bữa ăn được hướng dẫn nên có trên 10 loại thực phẩm, gồm 2-3 loại thực phẩm cung cấp chất đạm và 3-5 loại rau, củ.
PGS.TS Bùi Thị Nhung cho biết, một bữa ăn học đường hợp lý trước hết phải bảo đảm đủ năng lượng, đủ các nhóm dưỡng chất thiết yếu theo nhu cầu của từng nhóm tuổi. Bữa ăn cần bảo đảm sự cân đối giữa các chất sinh năng lượng như chất bột đường, chất đạm, chất béo, và vitamin, khoáng chất; đồng thời phải kết hợp đa dạng thực phẩm vì cơ thể cần rất nhiều chất dinh dưỡng khác nhau, không có một thực phẩm nào ưu thế tuyệt đối có đủ các chất dinh dưỡng mà cơ thể cần.
Ví dụ học sinh tiểu học có nhu cầu dinh dưỡng khác học sinh trung học cơ sở. Vì vậy, khẩu phần phải được xây dựng theo nhu cầu dinh dưỡng của từng nhóm tuổi.
PGS.TS Bùi Thị Nhung nhận định, khi bữa ăn đa dạng, cơ thể mới có thể nhận được nhiều chất dinh dưỡng cần thiết. Viện Dinh dưỡng đã xây dựng tháp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em ở các nhóm tuổi 3-5, 6-11, 12-14 và 15-17 tuổi, làm căn cứ để xác định lượng ăn, cách phối hợp thực phẩm và hoạt động thể lực phù hợp với học sinh. Tuy nhiên, theo chuyên gia, bữa ăn ở trường không thể tách rời giáo dục dinh dưỡng.
Trong Mô hình điểm bữa ăn học đường, một bữa ăn được hướng dẫn nên có trên 10 loại thực phẩm, gồm 2-3 loại thực phẩm cung cấp chất đạm và 3-5 loại rau, củ.
Thừa cân, béo phì ở trẻ em còn liên quan nhiều đến hành vi lựa chọn thực phẩm của trẻ. Bữa ăn tại trường có thể được kiểm soát nhưng sau khi rời khỏi cổng trường, trẻ lại tiếp cận với rất nhiều thức ăn nhanh, thực phẩm chế biến nhiều chất béo, nhiều muối, nhiều đường - một chai nước ngọt cùng một chiếc bánh rán nhiều dầu mỡ có thể cung cấp tới 500-600 kcal. Nếu trẻ ăn uống tốt ở trường nhưng về nhà lại được cha mẹ cho ăn quá nhiều thì vẫn có nguy cơ thừa cân, béo phì.
Đó là lý do giáo dục dinh dưỡng phải đi cùng bữa ăn học đường.
Giai đoạn học đường là thời điểm trẻ hình thành những thói quen ăn uống có thể theo các em suốt đời.
Thực tế từ Mô hình điểm cho thấy giáo dục dinh dưỡng kết hợp với thay đổi thực đơn phù hợp với trẻ đã tạo ra những thay đổi rõ rệt. Giáo dục dinh dưỡng là hoạt động quan trọng trong công tác dinh dưỡng học đường.
Thời gian gần đây, nhiều đơn vị triển khai các mô hình bữa ăn học đường và xây dựng các bộ thực đơn. Tuy nhiên, theo PGS.TS Bùi Thị Nhung, thực đơn chỉ là một phần nhỏ của mô hình. Mô hình điểm do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trong giai đoạn 2020-2021 có quy mô và mục tiêu rộng hơn, nhằm xác định Việt Nam có thể tổ chức bữa ăn học đường như thế nào trong những vùng sinh thái khác nhau, với điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và mức thu khác nhau.
Những trường thiếu cơ sở vật chất được hỗ trợ sửa chữa; trang thiết bị; nhân lực và nguồn chi phí, các chuyên gia được huy động để tập huấn và hướng dẫn xây dựng thực đơn. Đây mới là mô hình toàn diện. Nếu một nơi chỉ đưa ra một bộ thực đơn thì mới giải quyết được một phần của bữa ăn học đường.
Trong Mô hình điểm, có tới 400 thực đơn. Mỗi trường cần 8 tuần thực đơn không lặp lại vì mỗi trường có điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn thực phẩm, mức chi phí và thói quen ẩm thực khác nhau. Vì vậy, khi triển khai thực tế, các trường phải điều chỉnh theo điều kiện của mình.
PGS.TS Bùi Thị Nhung cho biết, nhiều năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn tổ chức các lớp tập huấn cho các tỉnh, trong đó có các chương trình tập huấn trên cả nước về Mô hình điểm. Ngay sau khi mô hình kết thúc năm 2021, đã có hội nghị triển khai nhân rộng mô hình và các tài liệu hướng dẫn tổ chức bữa ăn học đườngkết hợp hoạt động thể lực cũng được xây dựng.
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, quyết định và chương trình quan trọng liên quan đến dinh dưỡng học đường để cải thiện tầm vóc và sức khỏe trẻ em. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra yêu cầu xây dựng thế hệ người Việt Nam mới có đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, trình độ và sức khỏe.
Tiếp đó, Nghị quyết số 72NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trực tiếp yêu cầu triển khai hiệu quả Chương trình chăm sóc sức khỏe học đường, đẩy mạnh giáo dục thể chất, giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng trong nhà trường.
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, quyết định và chương trình quan trọng liên quan đến dinh dưỡng học đường để cải thiện tầm vóc và sức khỏe trẻ em.
Trên cơ sở những định hướng chiến lược đó, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, đánh dấu bước chuyển mạnh từ tư duy tập trung chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; trong đó, phòng bệnh trong cơ sở giáo dục được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, có tính hệ thống. Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa bằng Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, quy định rõ nội dung và hình thức tư vấn, truyền thông, giáo dục sức khỏe; tổ chức công tác y tế trường học; chăm sóc sức khỏe ban đầu và phối hợp phòng, chống bệnh, tật trong cơ sở giáo dục.
Đây là hành lang pháp lý quan trọng để những chủ trương lớn về phát triển giáo dục và bảo vệ sức khỏe nhân dân được chuyển hóa thành các nhiệm vụ cụ thể, đồng bộ và có thể kiểm tra, đánh giá trong từng nhà trường.
Để cụ thể hóa những nội dung về chăm sóc sức khỏe học đường, ngày 01/6/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 973/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035. Ngày 9/7/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT về Kế hoạch triển khai Chương trình trong toàn ngành Giáo dục. Chính sách đã có, mục tiêu đã rõ; nhưng từ văn bản đến sự thay đổi trong sức khỏe và chất lượng sống của từng học sinh vẫn còn một khoảng cách.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn 2019-2025, mặc dù các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị triển khai hoạt động chăm sóc sức khỏe người học đã có những cải thiện đáng kể. Tuy nhiên ở nhiều nơi, các điều kiện đảm bảo về nhân lực, cơ sở vật chất phục vụ công tác y tế trường học còn rất hạn chế, đặc biệt ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường chưa hoàn thiện đầy đủ nên việc tổ chức, quản lý sức khỏe người học, chăm sóc dinh dưỡng học đường, giám sát bữa ăn học đường vẫn còn nhiều hạn chế. Công tác chỉ đạo, điều hành, phối hợp liên ngành ở một số nơi chưa đồng bộ, quyết liệt. Công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong thực hiện chế độ ăn khoa học, hợp lý, đảm bảo dinh dưỡng cho người học ở một số cơ sở giáo dục chưa thật sự hiệu quả.
Về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị, thuốc thiết yếu, kinh phí cho công tác y tế trường học còn nhiều khoảng trống. Đội ngũ nhân viên y tế trường học đối với khối giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt tại vùng sâu, vùng khó khăn; tỷ lệ nhân viên y tế trường học chuyên trách chỉ chiếm 50,7%, trong đó chỉ khoảng 30% có chuyên môn y tế.
Việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân viên y tế trường học theo quy định của Bộ Y tế mới chỉ đạt 38,5%; Nhân viên phụ trách công tác y tế trường học, công tác bán trú chưa được đào tạo đầy đủ, còn thiếu kinh nghiệm trong việc lựa chọn thực đơn và kiểm soát an toàn thực phẩm;
Tại nhiều địa phương, nhất là vùng khó khăn, cơ sở vật chất, thiết bị, thuốc thiết yếu dành cho công tác y tế trường học chưa đồng bộ và chưa đáp ứng với thực tế bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người học; tỷ lệ cơ sở giáo dục có phòng y tế riêng, có đủ thiết bị, dụng cụ sơ cấp cứu thông thường và phòng y tế có đủ thuốc thiết yếu mới chỉ đạt 80%;
Anh hùng Lao động Thái Hương, Nhà Sáng lập, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược, Tập đoàn TH cho rằng, giáo dục toàn diện không thể tách rời dinh dưỡng. Một đứa trẻ nếu đói bụng, thiếu năng lượng, hay ngược lại thừa cân, béo phì thì rất khó tiếp thu tri thức và phát triển hài hòa. Chính vì vậy, bữa ăn học đường trong đó có ly sữa học đường phải được coi là "bài học đầu tiên" về thể chất, trí lực và cả nhân cách.
Để Việt Nam trở thành một trong 20 nền giáo dục hàng đầu thế giới vào năm 2045, chúng ta không thể chỉ nói đến chương trình học, sách giáo khoa hay công nghệ số. Điều căn bản nhất là con người – học sinh của chúng ta phải khỏe mạnh và có nền tảng thể chất vững chắc. Nếu thể chất yếu, trí lực cũng không thể phát huy, thì mọi cải cách giáo dục đều khó đạt mục tiêu.
Anh hùng Lao động Thái Hương cho rằng Muốn có thế hệ trí thức ngang tầm quốc tế, trước hết phải có thế hệ thanh niên đủ tầm vóc quốc tế. Chính sách dinh dưỡng học đường cần được xây dựng trên ba trụ cột dài hạn:
1. Chuẩn hóa bữa ăn học đường trên toàn quốc, có bộ tiêu chuẩn dinh dưỡng bắt buộc, để bảo đảm học sinh ở bất kỳ tỉnh thành nào cũng được hưởng một mức tối thiểu về năng lượng và vi chất.
2. Gắn dinh dưỡng với giáo dục thể chất và kỹ năng sống, để trẻ vừa khỏe, vừa có kỷ luật, tinh thần công dân và ý thức giữ gìn sức khỏe.
3. Kết hợp với mô hình giáo dục toàn diện như TH School – nơi tri thức, nhân cách, thể chất và hội nhập cùng phát triển – để hình thành lớp công dân toàn cầu mà vẫn đậm bản sắc Việt.
"Một quốc gia muốn vươn lên hàng đầu không thể chỉ dạy chữ, mà phải dạy làm người và nuôi dưỡng con người. Tôi tin rằng khi dinh dưỡng học đường được đặt đúng vị trí trong chiến lược giáo dục dài hạn, mục tiêu 2045 sẽ không phải là ước mơ xa vời", Anh hùng Lao động Thái Hương nói.
Đây chính là thời điểm chín muồi để Việt Nam có Luật Dinh dưỡng học đường. Nhiều năm qua chúng ta đã triển khai nhiều chương trình thí điểm, nhưng thiếu thống nhất, thiếu cơ chế giám sát, dẫn đến chỗ làm tốt – chỗ buông lỏng. Nơi này bữa ăn học sinh được chăm chút, nơi khác lại chỉ mang tính hình thức. Chính sự chênh lệch ấy khiến phụ huynh lo lắng và doanh nghiệp tử tế khó tham gia bền lâu.
Đây chính là thời điểm chín muồi để Việt Nam có Luật Dinh dưỡng học đường.
Luật ra đời sẽ biến bữa ăn học đường từ một chương trình ngắn hạn thành quyền lợi phổ quát, giống như quyền được đến trường. "Tôi vẫn luôn tin rằng: một ly sữa học đường không chỉ nuôi dưỡng thể chất, mà còn nuôi dưỡng cả phẩm giá và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam. Và luật chính là công cụ để biến tuyên ngôn đó thành hiện thực", Anh hùng Lao động Thái Hương nhận định.
Việt Nam đã có một lộ trình bài bản, các căn cứ nghiên cứu, đối chứng khoa học, chuyên nghiệp, đủ điểu kiện để các cơ quan chức năng làm cơ sở thực tiễn cho ra đời Luật Dinh dưỡng học đường.













