Ung thư là một trong những căn bệnh nan y diễn biến nhanh và gây ra tỷ lệ tử vong cao trên khắp thế giới. Sự ra đời của những phương pháp điều trị ung thư mặc dù chưa thể tiêu diệt tận gốc căn bệnh nguy hiểm này, song đã phần nào hạn chế được tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Nhắc đến các phương pháp điều trị bệnh ung thư, không thể không nhắc đến TS. Sidney Farber - người được mệnh danh là cha đẻ của phương pháp hóa trị được ứng dụng chủ yếu trong điều trị ung thư ngày nay.
Trong thời gian làm việc tại Harvard, Farber đã tiến hành nghiên cứu cho Hiệp hội Ung thư Mỹ. Ông đã tiến hành nhiều thí nghiệm và hoàn thiện lý thuyết về định lượng lâm sàng hóa chất aminopterin - một hóa chất được dùng để điều trị bệnh bạch cầu ở trẻ em. Những thử nghiệm lâm sàng của Farber sau đó đã thu được thành công. Thời kỳ đó, ông được mệnh danh là cha đẻ của ngành bệnh lý học hiện đại.
Không dừng lại ở đó, TS. Sidney Farber đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu căn bệnh ung thư vào năm 1947 và viện nghiên cứu ung thư mang tên Dana – Farber sau này chính là công trình được đặt theo tên để tưởng nhớ đến Farber – một trong những người đầu tiên mở rộng vấn đề nghiên cứu bệnh ung thư lên tầm cỡ quốc gia.
![]() Tiến sĩ Sidney Farber với bệnh nhi. |
Phương pháp hóa trị ra đời như thế nào?
Phương pháp hóa trị được ứng dụng trong điều trị ung thư lần đầu tiên vào năm 1940. Khi đó, người ta sử dụng hỗn hợp nitrogen và loại thuốc đối kháng acid folic. Thuốc điều trị ung thư được phát triển sau đó và biến ngành sản xuất thuốc thành ngành công nghiệp triệu đô. Tuy nhiên sau đó, người ta đã phát hiện ra rằng hóa trị không trị được vĩnh viễn bệnh ung thư mà chỉ có tác dụng kéo dài thời gian sống cho người bệnh và điều trị khỏi cho một số ít.
Như vậy, có thể nói, họ đã tìm ra manh mối dẫn tới phương pháp hóa trị. Ngay sau đó, TS. Goodman và Gilman đã đưa ra ý tưởng sử dụng hỗn hợp khí gas để điều trị bệnh ung thư tế bào lymphoid hay còn gọi là lymphoma. Thí nghiệm đầu tiên trên chuột và một số động vật thí nghiệm đã cho kết quả tốt. Tiếp đến, họ sử dụng phương pháp hóa trị này cho những bệnh nhân sau khi phẫu thuật loại bỏ khối u ung thư và cũng cho thấy tác dụng làm giảm tỷ lệ di căn khối u ung thư.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở đó, phương pháp này không mang lại hiệu quả nhiều, thậm chí gây ngộ độc cho bệnh nhân và còn đe dọa tới tính mạng của họ.
Chỉ tới khi nghiên cứu của TS. Farber chỉ ra rằng việc điều trị ung thư bằng tác động dược lý là có thể, ông đã mở ra một hướng đi mới cho hóa trị trong điều trị ung thư.
Hướng đi mới cho hóa trị điều trị ung thư
Chỉ một thời gian ngắn sau Thế chiến thứ 2, cuộc tiếp cận khoa học thứ hai với bệnh ung thư bắt đầu. TS. Sidney Farber là người đứng đầu nghiên cứu này tại Trường đại học Harvard, Mỹ. Khi đó, Farber tập trung nghiên cứu vào tác động của axid folic đối với bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu – leukemia. Và đây mới là hướng đi đúng đắn. Như đã biết, axid folic là loại vitamin thiết yếu cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, tất nhiên nó tác động đến quá trình trao đổi chất mang tính di truyền trong các DNA (khi đó, khoa học chưa biết đến sự liên quan của ung thư với DNA).
Không dừng ở đó, tại Trung tâm nghiên cứu ung thư New York, Mỹ, Farber cùng các đồng nghiệp tiếp tục nghiên cứu và tìm ra nhiều hóa chất khác như methotrexate, 6-mercatopurine... cũng có tác dụng chống lại ung thư tương tự. Nghiên cứu này của Farber đã mở đường cho hai nhà khoa học sau này là James Holland và Emil Freireich hoàn thiện liệu pháp hóa trị với sự góp mặt của nhiều loại hóa chất kết hợp hay còn gọi là liệu pháp hóa trị kết hợp.
Lê Huy (Theo The medical)
