Sẽ có nghiên cứu, khảo sát về tỉ lệ vô sinh tại Việt Nam

Y tế
SKĐS - Giải quyết vô sinh không chỉ mang lại hạnh phúc gia đình mà còn góp phần ứng phó với bài toán giảm sinh của đất nước.

Vô sinh không chỉ là vấn đề của từng gia đình

Ngày 28/10, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế và Công ty TNHH Merck Healthcare Việt Nam (Merck) tổ chức Lễ ký kết Bản ghi nhớ hợp tác nhằm tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam.

Phát biểu tại buổi ký kết bản ghi nhớ hợp tác, ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, cho biết Việt Nam đang đối mặt với xu hướng giảm sinh, đặc biệt tại các khu vực đô thị. Trong khi mức sinh thay thế trên toàn quốc cơ bản vẫn được bảo đảm, một số khu vực đã ghi nhận mức sinh thấp như vùng Đông Nam Bộ chỉ còn khoảng 1 con.

Sẽ có nghiên cứu, khảo sát về tỉ lệ vô sinh tại Việt Nam - Ảnh 1.

Ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em phát biểu tại sự kiện. Ảnh: T.H

Theo ông Đinh Anh Tuấn, bên cạnh các yếu tố tâm lý, xã hội và áp lực cuộc sống, khả năng sinh sản cũng là vấn đề cần được quan tâm. Ông dẫn lại nghiên cứu được thực hiện hơn 10 năm trước, cho thấy tỷ lệ vô sinh tại Việt Nam khoảng 7%, đồng thời nhận định tỷ lệ hiện nay có thể cao hơn. Tuy nhiên, ông cho rằng cần có nghiên cứu, điều tra để xác định con số cụ thể.

Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em nhấn mạnh, nếu trước đây việc giải quyết vô sinh chủ yếu hướng tới bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ và hạnh phúc gia đình, thì hiện nay vấn đề này còn có ý nghĩa đối với bài toán giảm sinh của đất nước.

Để đáp ứng nhu cầu của người dân, lĩnh vực hỗ trợ sinh sản cần tiếp tục mở rộng quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng chuyên môn, giảm chi phí và bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật.

Ông Đinh Anh Tuấn cho biết chi phí hỗ trợ sinh sản hiện vẫn là gánh nặng đối với nhiều người lao động. Một chu kỳ hỗ trợ sinh sản trung bình khoảng 100 triệu đồng. Vì vậy, cần cải tiến quy trình, nâng cao năng lực chuyên môn và áp dụng các phương pháp điều trị phù hợp nhằm tăng tỷ lệ thành công, giảm chi phí cho người bệnh.

Bên cạnh đó, công tác truyền thông về dự phòng vô sinh và thời điểm thăm khám cũng cần được chú trọng, giúp các cặp vợ chồng nâng cao nhận thức và chủ động tìm kiếm hỗ trợ sớm hơn.

Bà Ghislaine Dondellinger, Tổng Giám đốc Công ty Merck chia sẻ, Việt Nam đang có những bước tiến rất xa và chủ động trong lĩnh vực hỗ trợ điều trị vô sinh, hiếm muộn. Các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam đã sớm nhận diện vấn đề ngay từ thời điểm tỉ suất sinh đạt mức 1,94 (và hiện là 1,84).

"Nhiều quốc gia ngưỡng mộ Việt Nam vì đã không đi vào 'vết xe đổ' của Hàn Quốc hay Nhật Bản, mà chủ động huy động nguồn lực ứng phó với tình trạng giảm sinh đúng thời điểm", bà Ghislaine Dondellinger nói.

Để có nguồn thông tin chính xác, việc thu thập dữ liệu và số liệu thống kê đầy đủ là điều cốt lõi. Chúng ta cần những nghiên cứu sâu rộng về tỉ suất sinh và thực trạng vô sinh, hiếm muộn tại Việt Nam: từ tỉ lệ nam/nữ, nguyên nhân cản trở các cặp vợ chồng sinh con, đến những rào cản thực tế mà người dân đang gặp phải. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống và khung pháp lý minh bạch, vững chắc cùng các hướng dẫn chuyên môn chuẩn xác.

Thiết lập cơ chế xuyên suốt từ tầm soát, chẩn đoán cho đến điều trị. Giúp cán bộ y tế có hành lang pháp lý rõ ràng để áp dụng chuẩn mực chuyên môn cao, đồng thời giúp công chúng dễ dàng tiếp cận thông tin chính thống. Xây dựng một tiêu chuẩn chung về tỉ lệ thành công trong điều trị hiếm muộn giữa các trung tâm trên toàn quốc và tiệm cận với chuẩn quốc tế. Việc chuẩn hóa quy trình sẽ giúp giảm chi phí điều trị cho người dân mà vẫn bảo đảm và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Tập trung điều tra tỷ lệ vô sinh, nâng cao năng lực chuyên môn

Theo Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em Đinh Anh Tuấn, một trong những nội dung quan trọng của chương trình hợp tác là phối hợp điều tra tỷ lệ vô sinh tại Việt Nam. Đây là cơ sở để có số liệu cụ thể, phục vụ công tác xây dựng kế hoạch và triển khai các giải pháp phù hợp.

Sẽ có nghiên cứu, khảo sát về tỉ lệ vô sinh tại Việt Nam - Ảnh 2.

Lễ ký kết Bản ghi nhớ hợp tác nhằm tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam. Ảnh: T.H

Hai bên cũng hướng tới hỗ trợ xây dựng hướng dẫn chuyên môn, đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ; tăng cường truyền thông về dự phòng vô sinh; thúc đẩy các giải pháp điều trị hiệu quả, phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

Một nội dung khác được ông Đinh Anh Tuấn đề cập là tăng cường kết nối thông tin giữa các cơ sở hỗ trợ sinh sản và cơ quan quản lý. Việc này nhằm phục vụ công tác quản lý, điều phối hoạt động hiến, nhận tinh trùng, noãn và phôi theo quy định, góp phần hạn chế những bất cập phát sinh khi thông tin giữa các cơ sở chưa được liên thông.

Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động hỗ trợ sinh sản, kiểm soát các hành vi vi phạm và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Theo ông, việc hoàn thiện thể chế là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Ông đề cập những điểm mới trong quy định pháp luật về hỗ trợ sinh sản, trong đó có các trường hợp sử dụng tinh trùng hoặc phôi của vợ chồng đã lưu trữ khi người chồng qua đời, cũng như việc sử dụng phôi đã lưu trữ để tiếp tục sinh con trong những trường hợp đáp ứng quy định.

Về chương trình hợp tác giai đoạn 2026-2027, ông Đinh Anh Tuấn ghi nhận sự đồng hành của Công ty TNHH Merck Healthcare Việt Nam trong các hoạt động hướng tới chăm sóc sức khỏe người dân, đồng thời bày tỏ mong muốn hai bên phối hợp tháo gỡ khó khăn để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.

Trong khuôn khổ hợp tác, hai Bên dự kiến phối hợp triển khai bốn nội dung trọng tâm gồm: Xây dựng Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị vô sinh; Xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng về hỗ trợ sinh sản; Thực hiện nghiên cứu, khảo sát về vô sinh và việc chăm sóc, điều trị vô sinh tại Việt Nam; Phổ biến các hướng dẫn, tài liệu về hỗ trợ sinh sản, tập huấn chuyên môn và hướng dẫn sử dụng Cơ sở dữ liệu về hỗ trợ sinh sản.

Thông qua hợp tác này, Cục Bà mẹ và Trẻ em và Merck Healthcare Việt Nam kỳ vọng góp phần chuẩn hóa hoạt động chuyên môn, nâng cao chất lượng, tính an toàn và hiệu quả của dịch vụ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân Việt Nam.

Các hoạt động trong khuôn khổ Bản ghi nhớ được triển khai trên nguyên tắc độc lập về chuyên môn và khoa học, công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật Việt Nam và không nhằm mục đích thương mại, quảng cáo hoặc giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của Merck.

Sẽ có nghiên cứu, khảo sát về tỉ lệ vô sinh tại Việt Nam- Ảnh 3.4 thói quen ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở nữ giới

SKĐS - Một số thói quen trong sinh hoạt tình dục, chăm sóc vùng kín có thể làm tăng nguy cơ viêm nhiễm phụ khoa, ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản.


Ý kiến của bạn