Sảng - Hội chứng thường gặp ở người cao tuổi

Chính sách
SKĐS - Sảng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là ở người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên.

Theo Quyết định số 3347/QĐ-BYT, ngày 29/10/2026 của Bộ Y tế hướng dẫn chuyên môn chuyên ngành Lão khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, sảng là một hội chứng căn nguyên không đặc hiệu đặc trưng bởi rối loạn đồng thời ý thức, tri giác, tư duy, cảm xúc, chú ý, tâm thần vận động, trí nhớ, chu kì thức-ngủ. Trạng thái sảng thường là nhất thời, diễn biến nhanh, thường trong vài giờ đến vài ngày và có xu hướng dao động trong ngày. Thời gian sảng có thể vài ngày, nhưng cũng có thể kéo dài nhiều tháng, phần lớn các trường hợp có thể hồi phục trong vòng dưới 4 tuần hoặc ít hơn. Sảng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là ở người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên.

Sảng - Hội chứng thường gặp ở người cao tuổi - Ảnh 1.

Sảng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là ở người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên (ảnh: AI).

Người bệnh mắc sảng thường phải nằm viện lâu hơn và thường được chuyển tới các cơ sở chăm sóc dài hạn sau khi xuất viện. Các biểu hiện hành vi của sảng có thể cản trở điều trị và thường là yếu tố khiến người bệnh phải hội chẩn chuyên khoa tâm thần để được cung cấp, hỗ trợ xây dựng những phương pháp điều trị phù hợp, vượt ra ngoài những can thiệp, điều trị y khoa đơn thuần.

Khởi phát và diễn biến của Hội chứng sảng ở người cao tuổi

Theo định nghĩa, sự khởi phát của sảng là cấp tính đến bán cấp tính (vài giờ đến vài ngày) và thường liên quan đến sự khởi phát của bệnh lý thực thể.

Triệu chứng ban đầu có thể mờ nhạt, bao gồm: mất ngủ, dễ kích thích, giảm tập trung, bồn chồn, thờ ơ hoặc giảm giao tiếp, tương tác xã hội. Các triệu chứng xuất hiện đa dạng, thay đổi, dao động liên tục trong ngày, lúc xuất hiện, lúc biến mất, đặc biệt nặng hơn vào chiều và tối.

Sảng có thể cải thiện nhanh chóng trong vài ngày, có khả năng hồi phục hoàn toàn nếu được phát hiện, chẩn đoán và điều trị sớm. Thời gian kéo dài rất khác nhau, từ vài giờ đến vài tháng, với tổng thời gian tối đa theo định nghĩa là 6 tháng. Thông thường, trạng thái sảng sẽ hồi phục trong vòng 1-2 tuần. Tuy nhiên, người cao tuổi, đặc biệt là người có sa sút trí tuệ, quá trình hồi phục thường chậm hơn, kéo dài nhiều ngày đến vài tuần. Một số người bệnh có thể biểu hiện các rối loạn nhận thức kéo dài sau khi sảng thoái lui.

Các triệu chứng lâm sàng của sảng ở người cao tuổi

Các triệu chứng của sảng thường khá đa đạng. Các triệu chứng cốt lõi bao gồm suy giảm nhận thức và ý thức. Chìa khóa để chẩn đoán là không có khả năng tập trung chú ý, nhận thức hạn chế về các kích thích môi trường và phản ứng không đầy đủ với các kích thích đó. Trong số các triệu chứng nhận thức, các rối loạn về tri giác và trí nhớ là thường gặp nhất, cùng với rối loạn định hướng theo tình huống. Các rối loạn tri giác bao gồm nhận nhầm và ảo giác thị giác, đôi khi cũng là ảo giác về cảnh vật và các triệu chứng hoang tưởng. Các triệu chứng tâm thần vận động thường bao gồm bồn chồn, nhưng cũng có thể có tình trạng giảm hoạt động rõ rệt, trong đó sự thay đổi giữa các biểu hiện này thường xuyên xảy ra.

Các triệu chứng sảng thường thay đổi theo thời gian và thường trầm trọng hơn vào đầu giờ tối. Ngoài ra, người bệnh thường có phản ứng giật mình tăng đáng kể, đặc biệt là liên quan đến các can thiệp y tế hoặc điều dưỡng.

Rối loạn ý thức và nhận thức:

Các biểu hiện của ý thức và nhận thức bao gồm một loạt các biểu hiện khác nhau tùy theo mức độ.

- Giảm hoặc mất khả năng định hướng về thời gian, không gian, môi trường xung quanh, khả năng định hướng về bản thân có thể còn duy trì.

- Rối loạn tư duy: nội dung tư duy không liên quan ở mức độ nhất định, tư duy nhịp nhanh hoặc chậm.

- Giảm khả năng tập trung, duy trì, phân phối chú ý, dễ bị xao nhãng bởi các kích thích nhỏ xung quanh. 

- Trí nhớ: khó ghi nhớ, tái hiện các thông tin mới, giảm trí nhớ tức thì và trí nhớ gần, trí nhớ xa còn tương đối duy trì.

- Giảm khả năng giải quyết vấn đề và rối loạn chức năng điều hành.

Rối loạn tâm thần vận động

Các triệu chứng đa dạng bao gồm tăng hưng phấn, tăng hoạt động, nói nhiều, nói nhanh; hoặc thờ ơ, giảm năng lượng, giảm hoạt động, tương tác, giao tiếp. Ngoài ra, người bệnh có thể biểu hiện dễ cáu kỉnh, tăng cảnh giác, hoảng sợ, lo âu, bồn chồn. Ở các mức độ nghiêm trọng hơn, người bệnh có thể la hét, kích động, hung hăng, chống đối, tấn công.

Triệu chứng loạn thần và tri giác

Ảo giác (thường là ảo thị), ảo tưởng, nhận nhầm, hoang tưởng bị theo dõi, bị hại, bị thiệt hại xảy ra ở ≥ 40% trường hợp.

Rối loạn nhịp thức - ngủ

Người bệnh có thể giảm thời lượng giấc ngủ, chu kỳ thức - ngủ đảo ngược: buồn ngủ, ngủ nhiều về ban ngày, không ngủ ban đêm. Trong những trường hợp trầm trọng có thể mất toàn bộ giấc ngủ.

Triệu chứng cơ thể và dấu hiệu thần kinh khu trú

Các triệu chứng cơ thể ở người bệnh sảng thường gặp là: sốt hoặc hạ thân nhiệt, dấu hiệu nhiễm trùng, đau, mất nước, rối loạn điện giải, hạ hoặc tăng đường huyết, suy hô hấp, suy gan, suy thận.

Dấu hiệu thần kinh khu trú có thể xuất hiện trong trường hợp sảng do nguyên nhân tổn thương thần kinh trung ương (như đột quỵ, xuất huyết não, u não): yếu hoặc liệt nửa người, mất ngôn ngữ, nhìn đôi, rối loạn thị trường, hoặc bất thường về dáng đi, thăng bằng...

Theo biểu hiện triệu chứng, sảng được chia thành 3 nhóm chính bao gồm:

+ Sảng tăng động: Người bệnh có biểu hiện kích động và hoạt động giao cảm tăng lên. Họ có thể có biểu hiện ảo giác, ảo tưởng và đôi khi có hành vi chống đối hoặc không hợp tác. Các biểu hiện khác có thể bao gồm: Tăng cảnh giác, dễ giật mình, cáu kỉnh, gây hấn, thiếu kiên nhẫn, không hợp tác, hưng phấn, tức giận, bồn chồn, phản ứng vận động nhanh, mất tập trung, đi lại lộn xộn, nói nhanh hoặc to; chửi thề, hát, cười; nói và suy nghĩ miên man, ác mộng.

+ Sảng giảm động: Người bệnh buồn ngủ nhiều hơn và giảm sự tỉnh táo. Người bệnh thường nói ít, nói chậm, lờ đờ, chuyển động chậm, nhìn chằm chằm, thờ ơ. Sảng giảm động rất nguy hiểm vì thường không được phát hiện hoặc nhầm với tình trạng mệt mỏi hoặc trầm cảm. Tình trạng này liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn.

+ Sảng hỗn hợp: Người bệnh có thể dao động giữa các biểu hiện tăng động và giảm động.

Dự phòng hội chứng sảng ở người cao tuổi

1. Nguyên tắc chung

Sảng là một hội chứng cấp tính nhưng có thể dự phòng được đến 30-40% trường hợp. Dự phòng nên được bắt đầu ngay khi người bệnh nhập viện, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi có nguy cơ cao. Các phương pháp dự phòng sảng có hiệu quả hiện nay chủ yếu là các phương pháp không dùng thuốc, các nghiên cứu về dự phòng bằng thuốc còn rất hạn chế.

2. Các biện pháp dự phòng không dùng thuốc bao gồm:

- Đánh giá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ.

- Cần sàng lọc và xử trí sớm các yếu tố nguy cơ phổ biến bao gồm: sa sút trí tuệ, rối loạn giác quan (ví dụ, khiếm thị, khiếm thính) rối loạn giấc ngủ, bất động, dùng thuốc kháng cholinergic, nhiễm trùng, bí tiểu, táo bón, mất nước, môi trường lạ, rối loạn điện giải, và can thiệp thủ thuật lớn.

- Hạn chế nhập viện, dùng nhiều thuốc khi không cần thiết, nếu cần phải nhập viện, người bệnh nên được chăm sóc chuyên khoa lão khoa, xem xét các thuốc đang sử dụng ngay từ đầu. Khuyến cáo sàng lọc sảng thường xuyên, đánh giá sa sút trí tuệ, trầm cảm, rối loạn lo âu, tiền sử sảng, tiền sử sử dụng các chất tác động tâm thần (rượu, thuốc benzodiazepin, nicotine…).

- Can thiệp dự phòng trong môi trường đa khoa.

- Các can thiệp đa thành phần được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ mê sảng. Các gói can thiệp khác nhau giữa các nghiên cứu nhưng bao gồm các thành phần như vật lý trị liệu, định hướng lại, kích thích nhận thức, vận động sớm, thúc đẩy giấc ngủ không dùng thuốc, điều chỉnh khiếm khuyết về giác quan, xác định và điều trị nguyên nhân cơ bản hoặc biến chứng sau phẫu thuật, kiểm soát cơn đau, tránh táo bón, bù nước, dinh dưỡng và cung cấp oxy 10 .

- Một loạt các biện pháp can thiệp dự phòng có thể áp dụng trong môi trường đa khoa bao gồm:

+ Nhận biết sớm các yếu tố nguy cơ cao;

+ Tầm soát sảng hàng ngày; 

+ Định hướng môi trường;

+ Duy trì nước và điện giải bình thường;

+ Điều hòa chức năng bàng quang và ruột;

+ Thiết lập sớm chế độ ăn uống bình thường;

+ Điều chỉnh rối loạn chuyển hóa;

+ Hạn chế cố định;

+ Tối ưu hóa tim mạch (cung cấp oxy nếu có chỉ định);

+ Xác định sớm nhiễm trùng;

+ Điều trị đau hiệu quả;

+ Hoạt động hàng ngày;

+ Tránh thuốc chống loạn thần, benzodiazepin;

+ Giảm rối loạn về đêm, hỗ trợ giấc ngủ;

+ Tháo sớm thiết bị xâm lấn;

+ Can thiệp dược lý (ít có bằng chứng tin cậy). 

Các chương trình can thiệp đa thành phần như Hospital Elder Life Program (HELP) và các mô hình chăm sóc lão khoa chủ động đã được chứng minh giúp giảm rõ rệt tỷ lệ sảng. Chương trình HELP bao gồm 6 thành phần chính:

- Tái định hướng nhận thức: thường xuyên cung cấp, nhắc nhở các thông tin về thời gian, không gian, môi trường xung quanh, người thân; sử dụng đồng hồ, lịch, bảng tên người chăm sóc, hạn chế thay đổi người bệnh đến môi trường lạ, nhiều xáo trộn, hạn chế thay đổi người chăm sóc.

- Hỗ trợ thị giác/thính giác: cung cấp kính, máy trợ thính nếu có chỉ định.

- Cải thiện giấc ngủ tự nhiên: dùng các phương pháp thư giãn, tạo không gian yên tĩnh, âm nhạc nhẹ, mát-xa lưng, ánh sáng phù hợp với chu kì ngày - đêm.

- Khuyến khích vận động sớm: vật lý trị liệu và đi lại có hướng dẫn nếu không chống chỉ định.

- Dinh dưỡng và bù nước: giám sát, đảm bảo chế độ ăn và uống đầy đủ, phù hợp.

- Hỗ trợ giải trí và hoạt động xã hội: Tạo điều kiện cho người bệnh tham gia các hoạt động giải trí phù hợp (trò chuyện, đọc sách, nghe nhạc...). Hỗ trợ kết nối với gia đình.

Quyết định số 3347/QĐ-BYT

Sảng - Hội chứng thường gặp ở người cao tuổi - Ảnh 2.Các biện pháp can thiệp cụ thể nhằm giảm nguy cơ ngã ở người cao tuổi

SKĐS - Để giảm thiểu nguy cơ ngã ở người cao tuổi, gia đình, người thân cần bố trí đồ vật trong nhà đủ sáng và chống trơn trượt.


Ý kiến của bạn