Sân khấu “ăn đong”

Văn hóa – Giải trí
Mấy năm nay, sân khấu (SK) phía Bắc vẫn không đổi thay tình trạng tối đèn mỗi đêm trong khi ở TP. HCM, SK đầy sôi động. Đâu là nguyên nhân và giải pháp cho SK miền Bắc?

Mấy năm nay, sân khấu (SK) phía Bắc vẫn không đổi thay tình trạng tối đèn mỗi đêm trong khi ở TP. HCM, SK đầy sôi động. Đâu là nguyên nhân và giải pháp cho SK miền Bắc?

Sức ỳ của tư duy bao cấp khi cơ chế thay đổi

Khác với SK phía Nam, khi những vở diễn ra đời thường lấy kinh phí cá nhân đóng góp và tập thể sáng tạo cùng có trách nhiệm với số phận đứa con nghệ thuật của mình, SK phía Bắc dựng vở từ ngân sách Nhà nước và việc nhiều vở diễn sau khi được duyệt cho ra mắt đã phải mau chóng xếp vào kho, quả là một sự đau lòng về lãng phí. Một khu chợ, một chiếc cầu làm xong được nghiệm thu nhưng dân không sử dụng hoặc ít sử dụng thì bị phê phán, song một vở diễn được đầu tư cho ra mắt nhưng không đi được vào đời sống lại dường như vô can suốt bao năm nay. Lỗi tại ai?

Thế là người ta tìm nguyên nhân. Đầu tiên là không có kịch bản hay. Vậy ai dám chắc rằng kịch bản ở TP. HCM hay hơn phía Bắc? Và nếu đem kịch bản thật hay được cả nhân loại công nhận như kịch Sếchxpia đem dựng thì liệu SK có sáng đèn hay vẫn tối đèn? Rồi nguyên nhân tiếp theo là do thị hiếu khán giả thấp nghĩa là kịch bản, đạo diễn, diễn viên không dở nhưng trình độ khán giả có vấn đề. Đây quả là sự vu khống khán giả bởi khán giả chả phải ông A, bà B cụ thể nào mà vặn lại. Khi nói về “nhân dân Việt Nam” ai cũng thấy dân ta thông minh, lạc quan, nhạy bén, sâu sắc, vậy “khán giả” không phải là nhân dân sao hay chỉ là thành phần cá biệt trong xã hội?

SK phía Bắc tối đèn là do phương cách hoạt động vẫn theo kiểu bao cấp, chưa theo kịp được tình hình mới. Thực tế mỗi đơn vị nghệ thuật hàng năm được cấp một số kinh phí để trả lương, chi hành chính và chi dựng vở. Vở được nghiệm thu là xong, còn diễn được hay không thì không thành vấn đề vì cả lãnh đạo và cấp dưới vẫn nguyên lương, vẫn đến hẹn được tăng lương.

Chính tư duy bao cấp trong cơ chế thị trường đã làm SK tối đèn. Vở diễn là một sản phẩm hàng hóa và hàng hóa ấy cần phải được quảng bá rộng rãi đến “người tiêu dùng”. Hiện nay không hiếm tác phẩm có giá trị, song rõ ràng hoạt động SK phía Bắc là áo gấm đi đêm. Ở Hà Nội muốn đi xem kịch liệu có bao nhiêu người biết có vở diễn nào ở đâu, nhà hát nào đang dựng vở gì, trong khi bóng đá, ca nhạc, biểu diễn thời trang... công chúng rành rõ trước cả tháng!

SK có rất nhiều ý nghĩa và tác dụng nhưng sẽ chẳng có ý nghĩa và tác dụng gì đối với người không đến với SK. So với lĩnh vực ca nhạc hoặc SK TP.HCM, vấn đề quảng bá tác phẩm làm tốt hơn nhiều so với SK phía Bắc. Vì là vẫn bao cấp với tư duy cũ nên đơn vị nghệ thuật thiếu năng động trong tiếp thị, quảng bá tác phẩm và dù có muốn năng động cũng không có điều kiện khi tài chính chỉ đủ chi từ lúc khởi công tới buổi duyệt. Thiết nghĩ, những tác phẩm được Nhà nước đầu tư cần cộng thêm một số phần trăm (%) đáng kể so với chi phí dựng vở để làm công tác “quảng bá sản phẩm” qua các hình thức quảng cáo, tuyên truyền để thông tin đến dân và kéo khán giả tới nhà hát.

Cảnh trong vở Căn hộ 404 - một trong những vở diễn đông khách tại TP.HCM.

SK cần một kịch mục theo kế hoạch hay cứ chờ “ăn đong”?

Nền SK bất kỳ quốc gia nào cũng có những đối tượng khán giả riêng biệt của mỗi nhà hát, mỗi loại hình SK và lượng khán giả đến với mỗi sự riêng biệt ấy không đồng đều nhau. Sự định hình và phát triển của một nền SK tiến bộ hay lạc hậu căn cứ vào kịch mục của SK cả nước với hai nhóm giải trí và định hướng.

Thực tế SK nước ta có hai mảng kịch tư nhân và kịch các đơn vị Nhà nước. Kịch tư nhân thường nặng yếu tố giải trí và kịch Nhà nước thường mang tính định hướng và phát triển nền SK nước nhà. Thế nhưng, thật buồn khi ngay trong các đơn vị SK Nhà nước, dựng kịch bằng tiền ngân sách Nhà nước cũng có những quan niệm hết sức sai lầm khi luật bất thành văn tự xếp vở diễn thành 3 loại: kịch thị trường, kịch kén khách, kịch “cúng cụ”.

Có thể hiểu kịch thị trường là loại kịch dễ dãi, tầm phào cốt mua vui khán giả sau bữa cơm chiều. Kịch kén khách là kịch khán giả ít tìm đến. Kịch “cúng cụ” là kịch phục vụ nhiệm vụ chính trị được Nhà nước yêu cầu. Thực ra, việc chia như trên không sai nhưng nhiều khi cách chia này để che giấu những kém cỏi. Vở diễn tầm phào nông cạn thì vu cho là kịch thị trường, vở diễn nhạt nhẽo thì cao đạo nói là kịch kén khách. Đấy cũng là sự xúc phạm công chúng bởi kịch nào thì cũng phải có giá trị nghệ thuật và nội dung sâu sắc. Không thể coi thường khán giả để đưa ra xã hội những sản phẩm kém chất lượng. Nguy hại hơn khi quan niệm kịch “cúng cụ” là kịch làm cho xong, hết kỷ niệm, nhân dịp là cho qua, trong khi vở “cúng cụ” phải là vở có giá trị nghệ thuật cao, nội dung sâu sắc và tồn tại với nhiều buổi diễn nhất.

SK có yếu tố giải trí và cần có những vở diễn thật sự chỉ là giải trí theo thị hiếu của một bộ phận khán giả. Thế nhưng, sao Nhà nước lại phải đầu tư cho những dạng kịch này? Trong cuộc sống có những mặt hàng Nhà nước phải bù giá như gạo, xăng dầu, điện... để ổn định xã hội chứ sao lại bù giá cho phở, bún ốc, quần áo, đồ trang sức...? Các đơn vị nghệ thuật Nhà nước có thể dàn dựng kịch thị trường để nghệ sĩ có thêm thu nhập miễn không vi phạm những điều cấm kỵ, song phải bằng tiền của anh em chứ sao lại bằng tiền của dân. Có không ít đơn vị nghệ thuật dựng vở bằng ngân sách Nhà nước nhưng hài kịch đang biến thành hề kịch chẳng hạn. Hề kịch cũng cần cho một bộ phận khán giả và thu nhập nghệ sĩ, song một nền SK đích thực phải giữ được hài kịch đích thực bằng ngân sách Nhà nước. Các loại hình SK khác cũng vậy. Kịch hát dân tộc có thể phá phách tùy ý miễn là có nhiều người mua vé vào xem và không vi phạm. Song kịch hát đích thực truyền thống hoặc thể nghiệm tìm tòi, cách tân một cách nghiêm túc thì Nhà nước bảo trợ, đặt hàng, cấp kinh phí và nghiệm thu bằng chất lượng, bằng những bài học rút ra qua thể nghiệm.

Sự lộn xộn, thiếu kế hoạch trong việc xây dựng kịch mục của các đơn vị nghệ thuật khiến SK lâm vào cảnh ăn đong; các đơn vị nghệ thuật có kinh phí dựng vở, nhất là năm có hội diễn là nháo nhào đi tìm kịch bản của bất cứ tác giả nào theo kiểu cầu âu.

Với các đơn vị nghệ thuật Nhà nước, Nhà nước khoán kinh phí hành chính để tồn tại, song những vở diễn “thị trường” thì để tự do như SK tư nhân. Với các vở được cấp kinh phí thì từ khâu kịch bản phải được xem xét để xây dựng kịch mục theo kế hoạch. Tránh tình trạng các cấp duyệt, sửa kịch bản nhưng khi duyệt vở diễn lại như đứng trước sự đã rồi với một kịch bản trong vở diễn hoàn toàn khác khi kinh phí đã bỏ ra thôi đành... bó tay chấm com! Với SK tư nhân, Nhà nước cũng tạo sự bình đẳng, sẵn sàng đầu tư cho các vở diễn theo định hướng gìn giữ và phát triển nền nghệ thuật hiện đại, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Với những giải pháp trên, hẳn là kịch mục chúng ta sẽ phong phú hơn, số lượng tác phẩm nhiều hơn đảm bảo sự đa dạng vừa đáp ứng được nhu cầu kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng.               

   Lê Quý Hiền


Ý kiến của bạn