Sống đến hôm nay, đã quá lục tuần, tôi đã gặp gỡ và quen không biết bao nhiêu người trên mặt đất này. Nhưng quả là có gặp và chơi với khá nhiều người tuổi ngựa. Có lẽ vì tôi tuổi trâu nên hợp chứ không phải tam hợp với tuổi ngựa. Cùng là kiếp trâu ngựa cả mà. Kẻ kéo cày, còn kẻ kéo xe. Kẻ làm trâu vàng cho Tôn Tấn cưỡi, kẻ làm xích thố cho Quan Công xông pha trận mạc. Tựu trung là phục vụ con người tận tụy, thủy chung.
Tôi quen Duy Thái ngay sau khi Lời của gió trình làng. Đều là dân Hải Phòng “ăn sóng nói gió” nên có gì cảm thông ngay, thân thiết ngay. Từ đó, hai anh em, hai người bạn vong niên cứ thế đồng hành trên các nẻo đường âm nhạc đầy phiêu lãng. Lúc thì là cuộc “rủ nhau về Hải Phòng ca hát” chan chứa tình người đất Cảng. Lúc thì Duy Thái chạy lên Hà Nội, vội hát một sáng tác mới. Lúc thì giữa Sài Gòn hoa lệ uống đến “quắc cần câu” và lè nhè “chợ tình Sa Pa”. Biết bao lúc như thế để càng ngày càng quyến luyến, càng chia sẻ. Duy Thái vốn là kịch sĩ của thời bao cấp, nhưng lại là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của thời đổi mới. Không bao giờ quên cái đêm khi Lời của gió vang lên trên màn ảnh nhỏ qua thể hiện của nhạc sĩ Quang Vinh và ca sĩ Hồng Nhung (Bống). Một giai điệu thật khác biệt đã khắc vào người nghe một ấn tượng lạ lẫm và tinh khiết. Nó chẳng giống gì tình ca của cả hai miền Bắc - Nam thời trước thống nhất và cũng khác luôn cả tình ca của thời hậu chiến cho tới khi mở cửa. Người mến mộ âm nhạc một thời đã từng khen một ca từ “rất Hải Phòng” của Hải Như qua giai điệu cao trào của Lương Vĩnh trong Hải Phòng ca, Thành phố hoa phượng đỏ: “Hải Phòng đó hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu...”. Nếu nghe Lời của gió của Duy Thái một cách tận tường sẽ nhận ra cái chất “nói thẳng, nói thật”, “ăn sóng, nói gió” của người Hải Phòng “hiên ngang chỉ biết ngẩng đầu” luồn sâu trong khúc tình ca trẻ trung này: “Gió hãy nói rằng ta yêu nhau - thế thôi”. Thật ngắn gọn, không “vòng vo Tam quốc”. Cái chất này khiến cho Lời của gió đến bây giờ vẫn không thể lẫn vào biển tình ca Việt Nam đang dâng trào hôm nay. Từ Lời của gió, Duy Thái tiếp tục thăng hoa trong Tình yêu đầu tiên, Tìm tên anh trên bờ cát, Hãy đến với em... chất ngất một ấn tượng chiếm lĩnh mạnh mẽ. Sống với bạn bè, Thái rất chan hòa, quảng giao và mã thượng. Nhưng nếu đã không thích thì cứ nói toẹt ra, chẳng ngần ngại. Bởi vậy, chất lãng mạn trong tình ca Duy Thái hòa quyện được cả sự đắm đuối với sự mộc mạc, thô ráp đầy chinh phục. Phải chăng đời nghệ sĩ phiêu lãng như mây khắp góc biển chân trời? Khi thì ngồi co ro bên đống lửa Tây Bắc để mộng mị cùng sóng điện từ. Khi thì mơ màng chiêm ngưỡng những bức tranh thêu Đà Lạt. Khi thì liêu trai say tỉnh với ngọn sóng Vũng Tàu giấu vào đáy lặng im nguồn dầu thô. Khi thì dạt trôi giữa những dáng áo trắng nhà thương mà dâng lên ngợi ca. Cứ thế, chúng ta nắm tay nhau xuyên qua mùa mưa nắng buồn vui.

Nhà văn Nguyên Hồng
Tôi không ngờ có một tuần gần gũi nhà văn Nguyên Hồng vào mùa đông 1978. Nhà văn nổi tiếng viết về “người cùng khổ” này sinh năm Mậu Ngọ 1918, vừa Kỷ niệm 95 năm ngày sinh ở Hải Phòng, Hà Nội và Sài Gòn. Hồi trẻ, ông cùng dạy tư thục với bố tôi ở Trường Saint - Antoin (phố Lê Lợi - Hải Phòng). Mùa đông 1978, tôi và Nguyễn Đình Chính về Hải Phòng thăm lại “quê xưa”. Đến Hội Văn nghệ thì gặp Nguyên Hồng ở đó. Ông đang chấm một cuộc thi truyện ngắn do hội tổ chức. Trò chuyện rôm rả một lát, tôi đưa ra sáng kiến mời Nguyên Hồng về nhà tôi nhậu buổi trưa để hai “cụ giáo” có dịp gặp lại nhau sau quá nhiều năm xa. Cùng đi còn có Đào Cảng và Nguyễn Tùng Linh. Cuộc rượu ngắn đông và vui như Tết. Ông và bố tôi bồi hồi nhắc lại những kỷ niệm xa cũ. Và Nguyên Hồng bật khóc rấm rứt. Nguyên Hồng nổi tiếng là nhà văn hay khóc. Ông quá tình cảm với những éo le của mọi số phận. Nguyên Hồng khóc ngay cả khi một mình cưỡi “con vịt” (xe đạp thiếu nhi Liên Xô) đi trong thành phố cửa biển. Rượu cứ rót, nước mắt cứ rơi. Chiều đến rồi đêm về khi nào không hay. Tới khi Nguyên Hồng yêu cầu về nhà vì đã ngà ngà thì đã chớm khuya. Cả bốn chúng tôi phải hộ tống ông về tận khu tập thể ở gần Cầu Tre. Vào nhà, ông vội lấy ra một bao thuốc Nga rất lạ có nhãn hiệu là “Kênh đào trắng” (be - lưi ca nan - tiếng Nga). Điếu thuốc này rất lạ, chỉ có một nửa điếu nhồi thuốc, nửa kia là ống rỗng. Chưa bao giờ lại thấy một thứ thuốc lá có đầu lọc là không khí như thế. Chúng tôi hút vội và nhả khói tràn cung mây. Đó là chút quà ông mang về sau chuyến thăm Nga. Lại những câu chuyện văn chương. Vì tất cả đều đã ngà ngà nên không ai chú ý cái cặp đựng bản thảo to đùng ông buộc ở porbaga đã bị “cắt bom” tự lúc nào không hay. Có lẽ là lúc ông đi tụt lại sau chúng tôi một đoạn. Chuyện này chỉ được biết tới vào sáng ngày hôm sau ở Hội. Để mất một cặp bản thảo đang chấm khiến Nguyên Hồng áy náy. Ông cứ đi đi lại lại phân bua và cũng thầm thì rất dễ thương rằng mình đã đọc cả, đã định ra được giá trị các tác phẩm. Chúng tôi đành an ủi ông “của đi thay người”, rằng vì ai bảo cụ đẻ ra “Năm Sài Gòn”, nên bây giờ chúng nó bắt chước như xiếc vậy. Âu cũng là “sinh vì nghệ, tử vì nghệ” thôi. Chuyện chỉ được giải quyết gọn nhẹ khi tới ngày hôm sau nữa, có một chàng thanh niên mang chính chiếc cặp của ông tới Hội để trả lại. Chàng ta nói lớn: “Các ông văn nghệ mơ màng vừa thôi. Bị cắt bom mà chẳng biết gì. May cái cặp chỉ đựng toàn bản thảo, kẻ cắp không xơ múi gì nên đem ném bên bờ sông Lấp. Tôi yêu văn chương nên nhặt về đem trả cho các ông. Lần sau thì đừng có mơ màng nữa”. Tất cả cười phá lên khi Nguyên Hồng run run mở chiếc cặp ra, kiểm lại bản thảo. Chả mất gì mà chỉ được một chuyện làng văn nghệ hấp dẫn. Song mơ màng thì là bệnh rồi, chữa thế quái nào được.

Nhạc sĩ Duy Thái.
Sau tuần ấy ở Hải Phòng, tôi thỉnh thoảng lại gặp Nguyên Hồng ở nhà Văn Cao. Lại uống rượu, lại chuyện nghề. Văn Cao có làm một bài thơ về Nguyên Hồng rất ngắn và rất hay. Tôi sung sướng được đắm chìm trong không khí văn nghệ thuần khiết ấy, để rồi đến lúc bật khóc trong Lễ tưởng niệm ông tại Hội trường 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội mùa hè 1982. Ở lễ tưởng niệm, sau tất cả những tiếc thương, Nguyễn Tuân đã nói rất hay về ông và kết thúc bằng câu tiếng Pháp “Viva camarad Nguyên Hồng” (bạn Nguyên Hồng muôn năm). Tôi về Hải Phòng báo tin ông từ trần cho bố tôi. Bố thở dài: “Người tài hay yểu mệnh. Con có biết bác ấy viết tiểu thuyết về Hải Phòng, lấy nhân vật chính là bà Thị Nam nhà mình không?”. Tôi biết chứ. Tôi còn biết ông đang viết về cụ Đề Thám, trong đó có ông cả Huỳnh là con nuôi cụ tôi đã tặng cho cụ Đề Thám làm tâm phúc bên ông cả Trọng. Những mối liên hệ dằng dịt giữa ông và gia đình tôi qua đời thực và qua tác phẩm khiến tôi luôn luôn kính trọng ông một cách thân tình. Hôm kỷ niệm 95 năm ngày sinh ông ở Sài Gòn, tôi cũng có dự vì đang công chuyện trong đó. Nghe Nhã Nam, con gái ông nói ông còn cuốn nhật ký rất đáng đọc, như nhân chứng của một thời đại, song không biết có nên ấn hành hay không? Nhớ ông, sau vài năm, trong bài thơ Hải Phòng từ xa, tôi có viết một đoạn về ông:
...Giống như Nguyên Hồng bây giờ đã rất xa
Áo quần nâu những câu văn của bác
Những câu văn bụi ngát
Của Lò Nung, cốp-phát, hè đường
Những câu văn mang nặng đời thường
Còn neo lại giữa dòng sông Cấm...
Ông là một trong tứ mã kéo cỗ xe “Văn học hiện thực Việt Nam” đi những chặng đầu tiên cùng Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và Nguyễn Công Hoan.
Nguyễn Thụy Kha