DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Rễ đinh lăng tăng lực, chống độc
DSCKII. ĐỖ HUY BÍCH - 07:33 19/01/2019 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Đinh lăng là cây trồng khá phổ biến từ lâu ở nhiều nơi để làm cảnh. Chỉ có loài đinh lăng lá nhỏ (Tieghemopanax Fruticosus Vig) thuộc họ nhân sâm (Araliaceae) được dùng làm thuốc chữa bệnh.
Đinh lăng là cây trồng khá phổ biến từ lâu ở nhiều nơi để làm cảnh. Chỉ có loài đinh lăng lá nhỏ (Tieghemopanax Fruticosus Vig) thuộc họ nhân sâm (Araliaceae) được dùng làm thuốc chữa bệnh.

Người ta thu hoạch rễ đinh lăng vào mùa thu- đông ở những cây đã trồng được 3 năm trở lên; lúc này rễ mềm, có nhiều hoạt chất. Rửa sạch, cắt bỏ phần rễ sát với gốc thân. Rễ nhỏ thì dùng cả, rễ to chỉ dùng vỏ rễ. Thái nhỏ rễ, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió đảm bảo mùi thơm và phẩm chất. Khi dùng, để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5%, sao qua rồi tẩm 5% mật ong, sao thơm. Dược liệu có tên thuốc trong y học cổ truyền là nam dương lâm, có vị ngọt nhạt, hơi đắng, mùi thơm, tính mát bình không độc, được dùng dưới các dạng thuốc sau:

 

Cây và rễ đinh lăng.

Cây và rễ đinh lăng.

 

Công dụng của rễ đinh lăng

- Thuốc sắc:

Rễ đinh lăng thái nhỏ, sao vàng 8-16g, sắc với 400ml nước còn 100ml, dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ, uống thay chè để chống đau dạ con và làm tăng tiết sữa (Hải Thượng Lãn Ông).

- Thuốc ngâm rượu: Rễ đinh lăng khô 100g không sao tẩm, tán nhỏ, ngâm với 1 lít rượu 30-35 độ trong 7-10 ngày. Thỉnh thoảng lắc đều. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 5-10ml trước bữa ăn nửa giờ.

- Thuốc hãm: Rễ đinh lăng đã sao tẩm 5-10g, thái nhỏ, hãm với  nước sôi như hãm trà, uống làm nhiều lần trong ngày.

- Thuốc bột và thuốc viên: Rễ đinh lăng sao tẩm 100g, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 0,5-1g. Hoặc trộn bột đinh lăng với mật ong vừa đủ làm thành viên, mỗi viên 0,25 - 5g. Ngày uống 2-4 viên, chia làm 2 lần.

Rễ đinh lăng phối hợp với nhiều vị thuốc khác còn chữa được những bệnh sau:

- Chữa sốt lâu ngày, nhức đầu, háo khát, đau tức ngực, nước tiểu vàng: rễ đinh lăng tươi 30g, lá hoặc vỏ chanh 10g, vỏ quýt 10g, rễ sài hồ 20g, lá tre 20g, cam thảo dây 30g, rau má 30g, chua me đất 20g. Tất cả thái nhỏ, đổ ngập nước, sắc đặc lấy 250ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

- Chữa thiếu máu: rễ đinh lăng, hà thủ ô, thục địa, hoàng tinh mỗi vị 100g; tam thất 20g, tán nhỏ, rây bột sắc uống ngày 100g.

- Chữa viêm gan mạn tính: rễ đinh lăng 12g, nhân trần 20g, ý dĩ 16g, chi tử, hoài sơn, biển đậu, rễ cỏ tranh, xa tiền tử, ngũ gia bì mỗi vị 12g; uất kim, ngưu tất mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Chữa liệt dương: rễ đinh lăng, hoài sơn, ý dĩ, hoàng tinh, hà thủ ô, kỷ tử, long nhãn, cám nếp, mỗi vị 12g; trâu cổ, cao ban long mỗi vị 8g, sa nhân 6g. Sắc suống trong ngày.

DSCKII. ĐỖ HUY BÍCH

Tin chân bài
Hai cây thuốc mang tên chó
SKĐS - Trong kho tàng dược liệu cổ truyền từ lâu đã phát hiện và sử dụng nhiều cây cỏ để làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược thảo mà tên gọi gắn với loài vật rất gần gũi với người - con chó.
Món ăn thuốc cho trẻ thiếu máu
SKĐS - Trong chứng bệnh thiếu máu ở trẻ nhỏ thường gặp nhất là thiếu máu thiếu sắt, thuốc chứng cam của Y học cổ truyền.
Xoa bóp bấm huyệt chữa chuột rút
SKĐS - Chuột rút là căn bệnh thường gặp mọi lứa tuổi, có nhiều nguyên nhân. Bệnh này hay gặp khi cơ thể mệt mỏi hoặc vận động quá mức như: chạy lâu, bơi trong nước lạnh, vận động thể thao thiếu sự khởi động hoặc ngủ ban đêm quạt lạnh vào hai chân… Ngoài ra, chuột rút hay gặp ở người ăn uống thiếu bổ dưỡng, nhất là thiếu điện giải (canxi, kali, magie, natri…).
Bài thuốc dưỡng da trong mùa lạnh
Bài viết giới thiệu 4 bài thuốc Đông y làm đẹp da lại tốt cho cơ thể trong mùa đông để chị em tham khảo áp dụng.
Tin liên quan
CHUYÊN ĐỀ
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm