Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đang bước vào giai đoạn điều chỉnh quan trọng trong năm 2026. Cùng với việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tốc độ già hóa dân số và nhu cầu chăm sóc sức khỏe thay đổi, yêu cầu đặt ra là xây dựng mạng lưới y tế phù hợp hơn với quy mô dân số, đặc điểm từng địa bàn và khả năng tiếp cận của người dân.
Từ Quyết định 201 đến điều chỉnh năm 2026
Ngày 27/2/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là cơ sở để tổ chức mạng lưới y tế theo hướng đồng bộ, hợp lý, gắn với dân số, điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu chăm sóc sức khỏe từng vùng.
Ngày 16/12/2024, Thủ tướng tiếp tục ban hành Quyết định số 1576/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Quy hoạch.
Bước sang năm 2026, trước những thay đổi về tổ chức đơn vị hành chính và hệ thống y tế, Bộ Y tế tiếp tục cập nhật quy hoạch. Ngày 8/6/2026, Bộ ban hành Quyết định số 1658/QĐ-BYT phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch. Ngày 16/6/2026, Quyết định số 1754/QĐ-BYT tiếp tục sửa đổi, bổ sung Quyết định 1658, thay thế phụ lục về phân bố không gian mạng lưới.
Theo quy hoạch điều chỉnh, đến năm 2030, hệ thống y tế hướng tới 38 giường bệnh, 19 bác sĩ, 4 dược sĩ và 33 điều dưỡng trên 10.000 dân; mỗi vùng kinh tế - xã hội có ít nhất một bệnh viện cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao và mỗi tỉnh có ít nhất một bệnh viện cấp chuyên sâu.

Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đang bước vào giai đoạn điều chỉnh quan trọng trong năm 2026. Ảnh: VGP.
Y tế cơ sở phải phù hợp với từng địa bàn
Nếu bệnh viện chuyên sâu được tổ chức theo vùng thì trạm y tế là nơi người dân trực tiếp cảm nhận hiệu quả của quá trình sắp xếp mạng lưới.
Từ ngày 1/1/2026, Thông tư 43/2025/TT-BYT quy định trạm y tế xã, phường, đặc khu thực hiện nhiều nhiệm vụ từ phòng bệnh, khám chữa bệnh, quản lý sức khỏe cộng đồng đến chăm sóc bà mẹ, trẻ em, người cao tuổi và dân số. Việc tổ chức trạm y tế phải căn cứ quy mô dân số, diện tích, đặc điểm địa bàn, điều kiện kinh tế - xã hội và nhân lực thực tế.
Thực tế cho thấy nhu cầu giữa các địa bàn rất khác nhau. Hà Nội hiện có 126 trạm y tế xã, phường và 471 điểm trạm. Từ ngày 1/7 đến 20/12/2025, hệ thống này thực hiện gần 1,52 triệu lượt khám, chữa bệnh.
Tại TPHCM, trạm y tế phường Bình Thạnh sau sắp xếp phải phục vụ khoảng 126.000 người. Với khu vực đô thị mật độ dân cư cao, bài toán đặt ra không chỉ là duy trì cơ sở mà còn phải bảo đảm đủ nhân lực, thiết bị và năng lực quản lý bệnh mạn tính, chăm sóc người cao tuổi.
Những con số trên cho thấy việc tổ chức mạng lưới không thể chỉ căn cứ vào địa giới hành chính. Quan trọng hơn là mỗi cơ sở phục vụ bao nhiêu người, người dân phải đi bao xa và cơ sở đó có đủ khả năng cung cấp dịch vụ hay không.
Già hóa dân số làm thay đổi nhu cầu chăm sóc
Theo Cục Thống kê, dân số trung bình Việt Nam năm 2025 đạt 102,3 triệu người. Tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng lên 14,5%, trong khi nhóm 0–14 tuổi giảm còn 22,8%. Tuổi thọ trung bình đạt 74,7 tuổi.
Cơ cấu dân số thay đổi kéo theo nhu cầu y tế mới, đặc biệt về quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng.
Đây cũng là nội dung được tính đến trong quy hoạch điều chỉnh năm 2026 khi mạng lưới lão khoa, phục hồi chức năng và các dịch vụ chăm sóc dài hạn được xác định là những lĩnh vực cần tiếp tục phát triển.
Sắp xếp cơ sở y tế phải bảo đảm nguồn lực
Một cơ sở y tế chỉ phát huy hiệu quả khi có đủ nhân lực và thiết bị phù hợp.
Ngày 29/6/2026, Bộ Y tế ban hành Thông tư 22/2026/TT-BYT hướng dẫn danh mục máy móc, thiết bị cơ bản phục vụ hoạt động chuyên môn của trạm y tế xã, phường, đặc khu; đồng thời ban hành Thông tư 23/2026/TT-BYT hướng dẫn về thiết kế trạm y tế cấp xã. Các quy định này góp phần cụ thể hóa yêu cầu mới đối với tuyến y tế cơ sở, từ khám chữa bệnh đến quản lý sức khỏe người dân và phòng bệnh.
Trong quá trình sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2026–2027, yêu cầu quan trọng là không để thay đổi về tổ chức làm gián đoạn khám chữa bệnh, phòng chống dịch và các dịch vụ thiết yếu.
Lấy khả năng tiếp cận của người dân làm thước đo
Từ Quyết định 201/QĐ-TTg năm 2024 đến các quyết định điều chỉnh trong năm 2026, quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế đang chuyển từ xác lập định hướng sang tổ chức lại theo thực tiễn.
Trong bối cảnh dân số đã vượt 102 triệu người, người cao tuổi ngày càng tăng và mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai, câu hỏi không chỉ là có bao nhiêu bệnh viện hay trạm y tế. Điều quan trọng hơn là mỗi cơ sở phục vụ bao nhiêu dân, khoảng cách tiếp cận có hợp lý, tuyến dưới có đủ năng lực và nhân lực, thiết bị có đáp ứng chức năng mới hay không.
Quy hoạch chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi người dân được hưởng lợi từ một mạng lưới y tế gần hơn, phù hợp hơn và có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong từng giai đoạn của cuộc sống.