Theo Điều 12, Nghị định 287/2026/NĐ-CP, quy định khác về tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác như sau:

Từ 1/9/2026, quy định về phân bổ tiền bản quyền tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn có nhiều thay đổi (ảnh: AI)
Quy định khác về tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác
1. Trường hợp tác phẩm âm nhạc có cả nhạc và lời thì tác giả phần nhạc hưởng 70% và tác giả phần lời hưởng 30% mức tiền bản quyền đối với tác phẩm âm nhạc đó.
2. Trường hợp chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu thì biên kịch chuyển thể hưởng bằng 70% mức tiền bản quyền đối với biên kịch của tác phẩm cùng thể loại và quy mô quy định tại Điều 10 của Nghị định này, phần còn lại được trả cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm chuyển thể.
3. Trường hợp chuyển thể từ kịch bản thuộc loại hình sân khấu này sang loại hình sân khấu khác thì biên kịch chuyển thể hưởng bằng 40% mức tiền bản quyền đối với biên kịch của tác phẩm cùng thể loại và quy mô quy định tại Điều 10 của Nghị định này, phần còn lại được trả cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm chuyển thể.
4. Trường hợp chuyển thể kịch bản văn học sang ngôn ngữ lời ca đối với loại hình nghệ thuật kịch hát như nhạc kịch, Opera, thanh xướng kịch và các thể loại tương tự thì tác giả chuyển thể hưởng bằng 40% mức tiền bản quyền đối với biên kịch của tác phẩm cùng thể loại quy định tại Điều 10 của Nghị định này, phần còn lại được trả cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm chuyển thể.
5. Trường hợp tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả, bao gồm tuồng, chèo, cải lương, kịch dân ca, múa rối và các loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả khác; tác phẩm thuộc loại hình giao hưởng, Opera, kịch múa (ba lê), xiếc; tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số, các chức danh sáng tạo quy định tại Điều 10 của Nghị định này hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích bằng 15% mức tiền bản quyền của tác phẩm cùng thể loại và quy mô.
6. Trợ lý biên đạo múa, trợ lý đạo diễn, đạo diễn hình ảnh, đạo diễn sân khấu, đạo diễn âm nhạc, trợ lý chỉ huy dàn nhạc cho tác phẩm sân khấu, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm múa, xiếc và chương trình nghệ thuật tổng hợp hưởng tiền bản quyền bằng 20% mức tiền bản quyền của biên đạo múa, đạo diễn hoặc tổng đạo diễn, chỉ huy dàn nhạc của tác phẩm cùng thể loại và quy mô.
7. Nhạc sĩ phối khí phần nhạc đệm ca khúc có tổng phổ dùng cho dàn nhạc giao hưởng, thính phòng, dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc hiện đại và các dàn nhạc khác hưởng 30% mức tiền bản quyền cho tác giả âm nhạc của ca khúc đó.
8. Nhạc sĩ chuyển thể bản nhạc cho dàn nhạc thính phòng, dàn nhạc giao hưởng, dàn nhạc dân tộc hòa tấu hoặc các hình thức trình diễn dàn nhạc khác hưởng 35% mức tiền bản quyền cho tác giả âm nhạc của bản nhạc cùng thể loại và quy mô.
9. Chỉ huy dàn nhạc giao hưởng và hợp xướng, chỉ huy dàn nhạc giao hưởng đối với tác phẩm âm nhạc cho dàn nhạc giao hưởng, dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc hòa tấu thính phòng, nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc, kịch múa (ba lê), hợp xướng, hợp xướng nhiều chương, đại hợp xướng (Cantata) và các thể loại âm nhạc khác chưa được quy định tại Điều 10 của Nghị định này hưởng bằng 20% mức tiền bản quyền cho tác giả âm nhạc của tác phẩm cùng thể loại và quy mô.
10. Trường hợp chương trình nghệ thuật tổng hợp có các tác phẩm được sáng tạo độc lập thì tiền bản quyền đối với các tác phẩm này tính theo quy định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều 10 hoặc Điều 11 của Nghị định này.
11. Diễn viên, người biểu diễn trực tiếp, chỉ đạo thực hiện chương trình, chỉ đạo nghệ thuật, chỉ huy âm nhạc, người truyền dạy làn điệu hát truyền thống sang lời mới, người hóa trang (định trang) nhân vật, người biên tập chương trình nghệ thuật, người viết lời dẫn, lời bình, những người thực hiện các công việc khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác chưa được quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Nghị định này thì được chi trả theo quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật đối với sản xuất chương trình. Trường hợp chức danh không có trong quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật đối với sản xuất chương trình thì căn cứ vào quy định hướng dẫn chức danh nghề nghiệp lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn để chi trả tiền bản quyền.
Tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác, cuộc biểu diễn
1. Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác, cuộc biểu diễn mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý và bên khai thác, sử dụng trên cơ sở tiêu chí về loại hình nghệ thuật biểu diễn, tần suất, thời lượng, mục đích, hình thức, phạm vi khai thác, sử dụng, doanh thu, lợi nhuận thu được (nếu có) hoặc tiêu chí khác theo quy định của pháp luật có liên quan; trường hợp biểu diễn tác phẩm trước công chúng thì mức tiền bản quyền không thấp hơn 2% doanh thu cuộc biểu diễn.
2. Trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác, cuộc biểu diễn mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền, giáo dục, không nhằm mục đích thương mại thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm, cuộc biểu diễn.
Nghị định 287/2026/NĐ-CP