Nằm ở đỉnh trời ở xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm (Cao Bằng) là bản Lũng Mần. Nơi mà một thầy giáo cắm bản nói với tôi rằng chưa nhà báo nào đặt chân tới.
Đủ cái khó
Chỉ cách thị trấn Pác Miều 43km, nhưng phải mất non nửa ngày đường tôi mới "bò" vào đến Đức Hạnh (xã biên giới của huyện Bảo Lâm). Con đường độc đạo đầy rẫy đá tai mèo, dốc dựng đứng càng tăng thêm nỗi ám ảnh về câu đúc kết của mấy ông già ngoài thị trấn: "Xa Yên Thổ, khổ Đức Hạnh".
Từ Cốc Phùng "bò" thêm 20km mới đến được Lũng Mần, Lũng Pịa. A Chu, anh cán bộ xã đi cùng trang bị tư tưởng bằng mấy lời: "Ở Đức Hạnh mỗi khi cần thống kê hộ đói, hộ nghèo thì mấy cán bộ phụ trách không cần xét Lũng Mần vì nơi này... đói cả bản".
Địa hình toàn núi đá, không nước, không đất sản xuất nên đời sống ở Lũng Mần chỉ trông vào mấy nương ngô. Ngô mọc trên đá, năng suất chỉ bằng già nửa những nơi bình thường nên ở đây nhà ít đói nhất cũng phải chịu cảnh thiếu ăn 3-4 tháng mỗi năm. A Chu chua xót kể câu chuyện đợt giáp Tết năm rồi có chàng thanh niên người Mông ở Lũng Mần xuống xã nhận hàng cứu trợ, gặp bữa cơm mấy cán bộ ủy ban nên vào ăn luôn. Cậu ta ăn liền một lúc 6 tô cơm lớn. Ngạc nhiên, mấy người hỏi chuyện thì chàng thanh niên thật thà: Từ nhỏ tới giờ, mới chỉ được ăn cơm vài ba bữa. Đang là thời điểm vừa thu hoạch lúa, ngô nhưng người Mông ở Lũng Mần không dám ăn một bữa cơm trắng no. Hỏi, họ bảo rằng phải để dành...
Nhà anh Vừ Mý Lúa mỗi năm chỉ được chừng chục đấu lúa cộng với dăm bảy thúng ngô nương, gói ghém lắm cũng chỉ đủ giúp gia đình trụ được đến tháng 5. Trong lúc chờ chính quyền "tiếp cứu" thì Lúa cùng với thằng con cả nai lưng ra làm đủ thứ nghề mà vẫn không đủ nên chỉ còn cách chạy vạy đâu đó hẹn trả vào mùa sau. Quá trưa, bếp lửa nhà Lúa vẫn "im thin thít" mặc mấy con gà nghịch tro bay tứ tung. "Phải xay ngô với chờ vợ đi hái rau rừng về. Trưa nay cả nhà ăn mèn mén, đến tối mới được ăn cơm". Ra thế, bữa ăn chính của 7 con người chỉ độc món mèn mén được xay từ ngô, lọc qua nước, phơi khô rồi chan với canh rau rừng chia nhau húp. Với người lớn trong nhà thì dường như đã quá quen với cảnh này nên bữa ăn rồi cũng qua, nhưng lũ trẻ cứ ngồi nhìn nhau trệu trạo nhai không buồn nuốt. Thỉnh thoảng Lúa phải giục chúng ăn mau, thằng cả và vội mấy miếng, húp thêm bát canh cho qua chuyện rồi ra bệ cửa ngồi... than đói.
Bữa cơm ở Lũng Mần chỉ có mèn mén với rau rừng. |
Nhọc nhằn con chữ
Ở Lũng Mần có thể đói ăn như thế nhưng nhiều con. "Thống kê" số con của nhà Vừ Mý Lúa lên đến 16 đứa. Lúa có hai vợ. Người vợ đầu tên Mỵ, về làm vợ lúa 7 năm đầu thì chừng ấy thời gian bà chỉ độc mỗi công việc nằm bếp rồi đẻ sòn sòn năm một đến sáu đứa con.
Trong lúc bà vợ cả chưa có dấu hiệu dừng đẻ thì đột nhiên em ruột của Lúa qua đời, Lúa kéo luôn cô em dâu về sống cùng. "Ghi nhận tấm lòng" của anh chồng, bà này đẻ liên tiếp cho ông Lúa thêm 7 đứa nữa. Không chịu thua kém, dù người đã héo quắt như cây ngô đã bẻ bông nhưng bà cả cũng gắng cho được thêm ba đứa nữa, đưa chồng trở thành "người đàn ông đẻ nhiều nhất ở Bảo Lâm". Càng "phục" hơn khi biết rằng đứa thứ 16 nhà Lúa chỉ mới tròn... 4 tháng tuổi.
Thầy Mông Văn Nguyễn, một giáo viên lâu năm ở Lũng Mần, bảo nhà ông Lúa nghèo xác xơ, ngô cũng không có mà ăn vậy mà vẫn đẻ... rất giỏi. Đẻ nhiều đến nỗi bây giờ tên, thứ tự đứa nào trước đứa nào sau ông Lúa cũng không nhớ hết. Nghe thầy Nguyễn hỏi, ông Lúa ngắc ngứ mãi quay ra nhìn các bà vợ "cầu cứu" nhưng cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Cuối cùng ông Lúa leo lên gầm nhà mang xuống cuốn sổ hộ khẩu nhưng vẫn còn "sót" mấy đứa sau chưa kịp đăng ký do... hết sổ. "Cứ ngủ với nhau là đẻ thôi mà, muốn đẻ bao nhiêu cũng được, dễ lắm". Lúa nói bằng tiếng Mông như thế rồi cười hề hề.
"Người Mông ở Lũng Mần không quan trọng con cái là nam hay nữ, miễn là phải nhiều. Đôi khi chỉ với suy nghĩ đơn giản đẻ để... làm nương thôi. Họ không cần biết các khái niệm "kế hoạch hoá gia đình", "không sinh con thứ ba"... Cán bộ dân số có đến vận động đặt vòng hay sử dụng các biện pháp tránh thai họ "cãi lý" rằng bao đời rồi vẫn thế... Thành thử cái vòng luẩn quẩn mà cán bộ dân số ra rả "đẻ - đông con - đói nghèo" không ai biết, họ cứ mặc sức "tuân theo lẽ tự nhiên". Thầy Nguyễn đã phàn nàn như thế.
Theo thầy Nguyễn cũng vì mục đích "đẻ để lấy người làm nương" nên phần lớn họ thấy "ghét những buổi con cái đến trường". Dù nhà chỉ cách lớp học có một nương ngô nhưng đám con nhà Vừ Mý Lúa chỉ đến trường vào những hôm rảnh. Nhưng nếu nhìn vào "thời gian biểu" hằng ngày của chúng thì chỉ rảnh mỗi... ban đêm. Thỉnh thoảng mới đến trường nên nhà Lúa còn ba đứa đi học thì chỉ chung nhau một bộ sách vở, đứa này đi thì thôi đứa kia.
Sáng đi gánh nước, trưa chiều phải lên nương, thành thử để kéo được đám trẻ đến trường, mấy thầy giáo ở Lũng Mần ngày nào cũng phải đến từng nhà vận động, thuyết phục. Cứ lần nào thấy các thầy đến là Lúa khó chịu ra mặt: "Rủ chúng đi học hết thì lấy ai lên nương".
Mà đến trường, ngồi lớp đâu chỉ có học, đầu óc bọn trẻ dường như chỉ chờ tiếng "trống" thoát ra từ ống tre mà thầy Nguyễn tự chế để... về. Với chúng, học chưa bao giờ quan trọng. Hôm nay Vừ Mý Lìn, đứa con gái thứ mười nhà Vừ Mý Lúa không đến lớp. Nó lầm lũi lội bộ xách can xuống tận suối cách nhà mấy cây số để lấy nước. Người dân Lũng Mần còn quý nước hơn cả ngô, huống hồ chuyện học làm sao quan trọng bằng. Hỏi vì sao không để con đến trường, Vừ Mý Lúa "thực dụng": "Học có đẻ ra ngô, ra nước đâu". Với suy nghĩ đó, mười mấy người nhà Lúa chỉ 2-3 đứa sau là biết viết tên mình.
Cả chục năm trời bám đỉnh Lũng Mần, chấp nhận cảnh "mỗi tuần mới được tắm một lần" chỉ mong cái chữ "có mặt" ở vùng cao đặc biệt khó khăn, nhưng nỗ lực của thầy Nguyễn cũng chỉ giúp được một số đứa biết chữ chứ chưa đưa được đứa nào học hết cấp hai. "Khổ như thế thì chữ vào tai bên này lại ra ngay tai bên kia thôi. Nhiều thằng đến lớp với chiếc quần bằng dây leo cây rừng, làm cho nó biết chữ đã là khó lắm rồi chứ mong gì học cao". Thầy Nguyễn phân trần.
Mù chữ khổ thế nào thì chưa biết, chứ đi học như bây giờ thì dân Lũng Mần chưa thấy gì khổ bằng. Giả sử có trường hợp "cá biệt" nào đó muốn học lên cấp hai thì phải lội bộ hàng chục cây số đường rừng xuống tận trung tâm xã, còn nếu muốn học cấp ba phải lều chõng ra tận thị trấn. Dọc hai bờ sông Gâm qua thị trấn Bảo Lâm lác đác những túp lều của học sinh vùng cao về trọ học. Đói, khổ, chẳng trách họ "ghét học" đến thế, nhiều bản làng có được một học sinh cấp ba vẫn còn là giấc mơ.
Những đứa trẻ Lũng Mần khát chữ. |
Ở Lũng Mần, rất nhiều những ông bố, bà mẹ mà nếu được đi học đầy đủ chắc vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng đã bận bịu với đám con "đứa nách đứa cõng sau lưng". Một buổi chợ phiên, một đêm hội làng bản... trai gái gặp nhau, thấy cái bụng ưng ưng thế là kéo nhau về sống cùng.
Sinh năm 1987, Vừ Mý Dế, người dân tộc Mông ở bản Lũng Mần có vợ từ năm 17 tuổi. Vợ Dế, Sần Thị Dậu lúc "lên xe hoa" chỉ mới có 13. Ở gần nhà nhau, chơi với nhau từ nhỏ, lên nương, vào rừng lấy măng lấy củi cùng nhau nên hai đứa "yêu nhau" lúc nào không ai hay biết. Mấy năm trước tình cờ xuống bản dưới chơi thấy những thằng bằng tuổi mình nhưng đã có vợ có con, "nghĩ hay hay" Dế đùng đùng giục bố mẹ sang nhà đón Dậu về... làm vợ. Mẹ Dế hơi ngỡ ngàng nhưng ông bố vui ra mặt. Ông bảo: Hôm cả nhà Dế mang lễ vật sang thưa chuyện, cô dâu còn đang mải chơi đồ hàng với mấy đứa em tận bìa rừng. Cũng mang máng nhận ra con mình còn "hơi nhỏ" để làm dâu nhà Dế nhưng bố mẹ Dậu đành cứng lưỡi vì nhìn lại, đứa con dâu mới cưới cho thằng con trai Sần Và Dính nếu được đi học cũng chỉ mới lớp 7. Nghe mấy ông giáo cắm bản doạ như vậy là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, hai bên cũng sợ nhưng không dừng lại được nữa vì hình như Dậu đã có thai. Chỉ còn cách "lách" đi là không làm đám cưới, không lên xã đăng ký kết hôn.
Lấy nhau rồi nhưng thời gian đầu tối nào Dậu cũng khóc, cũng đòi về nhà ngủ với mẹ vì ngủ với Dế... không quen hơi. Thời thiếu nữ của những cô gái ở Lũng Mần nhiều lắm cũng chỉ 1-2 năm, thậm chí còn chẳng có. Từ trẻ con bỗng chốc họ làm mẹ, những bà mẹ còn chưa bước qua độ "tuổi trăng rằm". Dậu về làm vợ Dế 2 năm đẻ liền hai đứa. Càng "khủng" hơn khi biết rằng đứa thứ hai chỉ sau đứa đầu đúng 11 tháng. "Nó đẻ xong là hai vợ chồng lại ngủ với nhau, mới được mấy tháng đã thấy cái bụng nó phình lên rồi. Thế là mình lại được làm bố thôi". Dế hồ hởi "khoe". Cũng vì vợ "nằm ổ" liên tục như thế nên đám nương trồng ngô với lúa cao đè hết lên vai Dế. Một mình làm cật lực nhưng cũng chỉ lo được cho ba mẹ con Dậu trong vòng ít tháng. Cứ ra giêng là Dế lại đẩy mấy đứa con sang "bám" ông bà nội ngoại còn mình "kiếm được cái gì thì ăn cái đó".
Tạm biệt Lũng Mần, nỗi buồn cứ đeo bám tôi. Chẳng biết đến bao giờ cái chữ mới giúp người Lũng Mần bớt nghèo, bớt khổ!?
Phóng sự của Hoàng Vũ Quang