Bài 1: Barie ngăn sự móc ngoặc giữa nhà thuốc với thầy thuốc
Theo Bộ Y tế, thuốc tiêu thụ ở hệ thống nhà thuốc bệnh viện hiện chiếm khoảng 70% thị trường thuốc cả nước. Chính vì thế hoạt động kinh doanh của nhà thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh luôn là vấn đề được ngành y tế quan tâm, thông qua việc xây dựng các văn bản pháp luật để quản lý hoạt động, giá bán lẻ các mặt hàng thuốc nhằm đảm bảo phục vụ tốt nhất người bệnh về chủng loại, mặt hàng thuốc cũng như chất lượng thuốc...
Từ khi nhà nước chưa cho mở nhà thuốc tư (1985-1989), trong các buồng bệnh đã có việc bán thuốc cho người bệnh, gọi là "thuốc đầu giường" thực chất là "túi thuốc tư của y tá". Sau khi nhà nước cho mở nhà thuốc tư, trong khuôn viên bệnh viện (BV) có một hoặc nhiều nhà thuốc do tư nhân cùng với bệnh viện lập ra. Trong những năm qua hoạt động của nhà thuốc BV vẫn còn không ít bất cập, do đó mới đây Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 24/QĐ-BYT về tổ chức và hoạt động của Nhà thuốc BV nhằm siết chặt quản lý của hệ thống nhà thuốc BV.
Việc mua bán thuốc trong khuôn viên bệnh viện trước đây?
BV có đất, có nhà, có người bệnh, người kê đơn; tư nhân có vốn, có người chạy hàng, tiếp thị. Việc hợp tác do giám đốc BV và chủ nhà thuốc tư quyết định nhưng phía BV thường lấy danh nghĩa công đoàn đứng ra ký hợp đồng. Nội dung căn bản của hợp đồng là nhà thuốc tư phải nộp cho BV một khoản tiền và BV cho phép nhà thuốc tư kinh doanh trên địa bàn mình quản lý. Vấn đề nhức nhối tại các nhà thuốc tư trong khuôn viện BV là: bán nhiều loại thuốc mới, thuốc ngoại, thuốc hiếm... (một số là do nhân viên tiếp thị đưa đến) thường có giá cao. Một số thầy thuốc móc với nhà thuốc chỉ kê đơn các loại thuốc này (cho cả người bệnh ngoại trú và nội trú tự túc) nên nhiều khi người bệnh buộc phải mua dùng những loại thuốc thật ra yêu cầu điều trị chưa hẳn là cần thiết. Nhiều công ty liên doanh với nước ngoài biết được lợi thế này của nhà thuốc trong khuôn viên BV, thường nhờ nhà thuốc bán hộ các thuốc mới nhập (chi trả hoa hồng cho nhà thuốc, người kê đơn rất cao 20-30% thậm chí 40% giá bán). Như vậy, ngay từ khi mới nhập vào nước ta, thuốc ngoại đã xâm nhập dễ dàng vào BV, với giá bán lẻ khó kiểm soát. Tuy nhiên cũng có mặt lợi: đáp ứng cho người bệnh có bệnh nặng (mà không muốn chuyển lên tuyến trên), đáp ứng cho người có nhu cầu cao...
Năm 1999, Bộ Y tế ra quyết định 3016/1999/QĐ-BYT về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc trong đó yêu cầu "giám đốc BV có trách nhiệm tạo điều kiện để 01 doanh nghiệp dược nhà nước mở hiệu thuốc trong BV nhằm giúp bệnh nhân lựa chọn nguồn thuốc" hoặc được phép tự tổ chức dịch vụ cung ứng thuốc (lấy nhân viên của bệnh viện ra làm) trong đó "giám đốc BV chịu trách nhiệm quản lý toàn diện hoạt động của BV. Giám đốc có văn bản phân công nhiệm vụ cho những người tham gia trực tiếp tại nhà thuốc bệnh viện". Mặc dù quy định khá rõ, trong thực tế, nếu chọn giao cho một doanh nghiệp dược nhà nước thì doanh nghiệp lại "khoán" cho nhà thuốc; nếu BV tổ chức dịch vụ thì BV lại "khoán" cho công đoàn hay khoa dược bệnh viện. Tuy mang tên là nhà thuốc BV, nhưng những nhà thuốc BV theo kiểu "khoán" này thực chất không khác gì mấy nhà thuốc tư trước đó.
Có bệnh viện đã có những cách giải quyết hợp lý (chia đồng đều tiền hợp đồng với nhà thuốc cho nhân viên) hoặc có các biện pháp khống chế kiên quyết (kiểm điểm trách nhiệm kê đơn của thầy thuốc, trách nhiệm cho dùng thuốc của y tá, không cho trình dược viên tiếp xúc với thầy thuốc tại khoa...) nhưng vẫn không giải quyết được: vì thầy thuốc, y tá không móc với nhà thuốc BV thì móc với nhà thuốc ngoài cổng BV, không tiếp xúc với trình dược viên tại khoa thì tiếp xúc tại nhà.
Quyết định mới về nhà thuốc bệnh viện
Bộ Y tế vừa ra Quyết định số 24/2008/QĐ-BYT về tổ chức và hoạt động của Nhà thuốc BV quy định rõ: Giám đốc BV chịu trách nhiệm về hoạt động của nhà thuốc BV. Trong trường hợp liên doanh, liên kết thì giám đốc đơn vị, hoặc cá nhân liên doanh, liên kết cùng chịu trách nhiệm với giám đốc BV về hoạt động của nhà thuốc BV". Theo đó , trách nhiệm về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc là của BV và do giám đốc chịu trách nhiệm. Làm đúng điều này thì dù là nhà thuốc BV ở dạng liên kết hay nhà thuốc do bệnh viện làm dưới dạng dịch vụ... vẫn là nhà thuốc "của bệnh viện" chứ không phải là nhà thuốc tư hay nhà thuốc kiểu khoán như trước đây.
Danh mục thuốc tại nhà thuốc BV cũng nêu rõ: "phải đáp ứng với danh mục điều trị... do hội đồng thuốc và điều trị của BV công bố..". Để đạt được quy định này, đương nhiên giám đốc BV phải quản lý danh mục thuốc của nhà thuốc chứ không thể khoán trắng cho nhà thuốc. Mặt khác để đảm bảo chất lượng và giá cả thuốc, giám đốc BV đương nhiên cũng chỉ có thể cho phép nhà thuốc mua ở các cơ sở hợp pháp, với giá cả hợp lý (thể hiện qua việc chào giá hợp đồng và hóa đơn nhập cụ thể chứ không phải để mặc cho nhà thuốc khai thác nguồn hàng đâu cũng được. Nếu giám đốc BV làm đúng được như vậy thì sẽ làm lành mạnh hóa danh mục thuốc tại nhà thuốc. Việc dùng thuốc trong BV do khoa dược hay do nhà thuốc cung ứng về cơ bản đều theo định hướng chung do hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện công bố, nên đỡ sự chuệch choạc và đương nhiên cũng giảm bớt sự móc ngặc không lành mạnh giữa nhà thuốc với thầy thuốc và y tá.
Về giá cả, quy định mới nêu rất rõ và chi tiết thặng số bán lẻ các loại thuốc (so với quyết định 3016/1999QĐ-BYT cũ). Nếu đã có hóa đơn nhập với giá cả hợp lý như nói trên và thực hiện đúng về quy định thặng số thì đương nhiên giá thuốc BV sẽ không bị đội lên (do các khoản chi phí bất hợp lý như trước đây đã nói trên). Tuy nhiên để làm được điều này giám đốc BV phải có một bộ máy kiểm tra giá tốt (có thể kiểm tra giá bất cứ lúc nào, vì nhà thuốc hoạt động 24/24 giờ). Mặt khác phải có một số qui định chi tiết thuận lợi cho sự kiểm tra và phát hiện của người bệnh (ví dụ khi bán thuốc phải ghi số tiền bán lên đơn thuốc).
Nếu thực hiện tốt những quy định tại quyết định số 24/2008/QĐ-BYT về tổ chức hoạt động của nhà thuốc BV sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề bức xúc của nhà thuốc BV và đương nhiên cái lợi sẽ thuộc về người bệnh.
Thu Hương - Bùi Hải